Nét hùng dũng của ngựa trong văn hóa Trung Hoa

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về văn hoá Trung Quốc và Đông Bắc Á (Triều Tiên, Nhật Bản...)

Nét hùng dũng của ngựa trong văn hóa Trung Hoa

Gửi bàigửi bởi nttn218 » Thứ 2 31/03/08 22:24

Bài 1: Giới thiệu sơ lược về đề tài tìm hiểu

Chủ thể:
Ngựa con vật vốn gắn liền với nền văn hóa mang tính du muc.
Ngựa còn là loài vật quý giá với đức tính trung thành, đứng hàng thứ 7 trong 12 địa chi.
Ngựa đóng vai trò quan trọng trong lịch sử văn hóa Trung Hoa.
Tìm hiểu nét hùng dũng của ngựa trong văn hóa Trung Hoa là quá trình tìm hiểu nét đẹp của ngựa thể hiện trong các lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật.

Không gian:
Ngựa Trung Hoa có nguồn gốc xuất phát Trung Á. Nhưng hiện nay, đa số các loại ngựa tại Trung Hoa có nguồn gốc từ Mông Cổ.

Thời gian:
Ngựa được cho rằng đã xuất hiện ở Trung Quốc cách đây 4,000 năm. Những mảnh giáp cốt khai quật cho thấy ngựa đã được sử dụng vào đời Thương.
Hand + Heart + Head = Human
Hình đại diện của thành viên
nttn218
 
Bài viết: 31
Ngày tham gia: Thứ 6 30/11/07 17:17
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Nét hùng dũng của ngựa trong văn hóa Trung Hoa

Gửi bàigửi bởi nttn218 » Thứ 4 09/04/08 0:40

Bài 2: Tìm hiểu hơn về chủ thể nghiên cứu: Ngựa 馬
Ngựa là con vật tượng trưng của các bộ lạc du mục, góp phần hình thành nên văn hóa mang tính du mục (tính động). Khi nói đến ngựa, người ta liên tưởng ngay đến các đặc điểm:
Về hình dáng: tuấn mã
Về phong thái: sự hùng dũng, sự hiên ngang
Về tốc độ: nhanh và bền bỉ
Về âm thanh: tiếng ngựa thét vang trời, tiếng vó ngựa phi.
Xét về tính Âm – Dương của ngựa hiện vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau.
Ngựa tượng trưng cho Âm vì ngựa chạy trên mặt đất.
Ngựa di chuyển nhanh, tính động nên là con vật mang tính Dương cao nhất.
Ngựa trở thành một đề tài quen thuộc, xuất hiện trong nhiều lĩnh vực lịch sử,quân sự, văn học, hội họa, điêu khắc, phong thủy - kiến trúc …
Người nổi tiếng nhất trong những tướng sư chuyên coi tướng ngựa là Tôn Dương. Vì tài xem xét xương và cấu trúc của con ngựa, ông có thể nói đúng các đặc tính của nên người đời gọi ông là Bá Nhạc (hay Lạc – Bole) là tên chòm sao Scorpio được coi là cai quản các giống thiên mã trên trời.
Các tuấn mã nổi tiếng trong nền văn hóa Trung Hoa phải kể đến:
Ngựa Xích Thố tòan thân đỏ như lửa, mỗi ngày đi nghìn dặm. Lúc đầu Xích Thố thuộc Ðổng Trác, Lý Túc và Lý Nho lập mưu bảo Đổng Trác đem vàng bạc châu báu và ngựa Xích Thố tặng cho Lã Bố để mua chuộc Bố bỏ cha nuôi là Ðinh Nguyên mà đầu quân bên Trác. Khi Lã Bố thua chạy về thành Hạ Bì, bị quân Tào Tháo vây. Thuộc hạ của Lã Bố là Hầu Thành ban đêm trộm ngựa rồi dâng Tào Tháo. Hôm sau hai thuộc hạ khác là Tống Hiến và Ngụy Tục lừa dịp Lã Bố ngủ bèn trộm cây phương thiên họa kích và trói Lã Bố đem nạp cho Tào Tháo. Sau khi Tào Tháo xử trảm Lã Bố, ngựa xích thố thuộc về Tào Tháo. Khi Quan Vũ tá túc bên Tào Tháo, được Tào Tháo hết lòng trọng đãi, và ngựa Xích Thố là món quà của Tào Tháo nhằm mua lòng Quan Vũ. Về sau khi Quan Vũ bị Tôn Quyền chém chết, ngựa Xích Thố nhịn ăn mà chết theo. Người đời lập miếu thờ ngài cũng đắp tượng thờ ngựa Xích thố.

Ngựa Ðích Lư của Lưu Huyền Ðức. Khi Lưu Huyền Ðức cùng ba tướng Quan Công, Trương Phi và Triệu Vân đi đánh loạn tướng của Lưu Biểu là Trương Vũ, họ Lưu thấy tướng giặc cưỡi một con ngựa cao lớn hùng dũng nên bật lời khen: "Kìa hẳn là một con thiên lý mã". Khi Trương Vũ bị Triêu Vân giết chết, con ngựa qúi này được dâng cho Lưu Huyền Ðức. Một hôm Lưu Biểu thấy Huyền Ðức cưỡi con ngựa tốt cứ tấm tắc khen mãi. Biết ý, Huyền Ðức bèn đem ngựa tặng Lưu Biểu. Biểu có một thủ hạ tên Khoái Việt biết coi tướng ngựa liền nói: "Con ngựa này dưới mắt có cái vệt kia là "vũng chứa lệ", trên trán lại có một điểm trắng, chính là giống "Ðích Lư hại chủ", không nên cưỡi. Chính Trương Vũ cũng vì ngựa này mà chết, sao chúa công còn dùng?". Lưu Biểu nghe lời bèn trả ngựa Ðích Lư lại cho Lưu Bị. Ðến khi Huyền Ðức tuân lệnh Lưu Biểu về trấn thủ thành Tân Dã, quan Mạc tân Kinh Châu là Y Tịch đến trước đầu ngựa khuyên rằng: "Con ngựa của ngài tuy tốt nhưng không nên cưỡi". Huyền Ðức hỏi lý do, Y Tịch cho biết đó là giống ngựa hại chủ. Huyền Ðức không nghe, cho rằng "sống chết do mạng trời, đâu phải một con ngựa có thể hại nổi?". Khi Huyền Ðức bị vợ của Lưu Biểu là Thái phu nhân bày mưu hãm hại, họ Lưu cưỡi ngựa bỏ chạy, gặp một con suối nhỏ tên gọi Ðàn Khê chắn ngang, sau lưng có thủ hạ của Thái phu nhân là Thái Mạo đuổi gấp. Huyền Ðức túng thế đành thúc ngựa lội liều xuống nước, nhưng chỉ đi được vài bước, ngựa bị sa lầy không đi được nữa. Phía sau tiếng quân reo ngựa hí đuổi đã gần tới. Huyền Ðức tuyệt vọng kêu lên: "Mày đúng là giống Ðích Lư hại chủ, hôm nay đã hại ta rồi!" Tiếng than vừa dứt, bỗng con Ðích Lư vươn cổ hí một tiếng lớn, cất mình bay vọt qua bên kia bờ Ðàn Khê, cứu Lưu Huyền Ðức thoát nạn.

Ngựa Ô Truy của Sở Bá Vương Hạng Võ. Hạng Vương đã cùng ngựa qúi xông pha trăm trận cùng Lưu Bang diệt được bạo Tần. Cho tới khi Hán Vương Lưu Bang cùng Sở Vương Hạng Võ giao tranh để dành quyền bá chủ, ngựa Ô Truy cũng lắm lần vào sanh ra tử lập nhiều công lớn. Cuối cùng, khi Bá Vương bị quân Hán vây khổn tại Cửu Lý Sơn cùng đường phải nhảy xuống bến Ô Giang tự tử. Ngựa Ô Truy cũng đâm đầu xuống sông tử tiết theo chủ.
Hand + Heart + Head = Human
Hình đại diện của thành viên
nttn218
 
Bài viết: 31
Ngày tham gia: Thứ 6 30/11/07 17:17
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Nét hùng dũng của ngựa trong văn hóa Trung Hoa

Gửi bàigửi bởi ttmmsuongkho » Thứ 4 23/04/08 11:04

không thấy bạn giới thiệu con ngưa thành Troy. Nhắc đến ngưa khảo cổ phải nhắc đến quá trình tiến hoá của ngựa vì đây là dộng vật động di chuyển khắp nơi, nơi nào cũng có thể khai quật được di chỉ của ngưa, chính ngựa là cầu nối, dấu hiệu để nhà khảo cổ học định danh, tuổi một cách dễ dàng từ hố khai quật. Thuyết phục hơn bạn nên đưa ra trong ngôn ngữ có bao nhiêu từ, bộ chỉ Mã trong tiếng Hoa.
RANDOM_AVATAR
ttmmsuongkho
 
Bài viết: 22
Ngày tham gia: Thứ 6 26/10/07 14:45
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Nét hùng dũng của ngựa trong văn hóa Trung Hoa

Gửi bàigửi bởi CUHUYEN » Thứ 7 26/04/08 14:47

Theo "Vó ngựa và Cánh cung" – tác giả Nguyễn Duy Chính
- Ngựa là dòng dõi của giống Eohippus thời thái cổ cách đây hơn 60 triệu năm.
- Khoảng một triệu năm trước trở thành giống Equus caballus chính là thủy tổ của ngựa ngày nay. Giống Eohippus chỉ nhỏ bằng con chồn, có bốn móng ở đằng trước, ba móng ở chân sau, nguyên thủy có ở Bắc Mỹ nhưng sau đó lan ra khắp nơi trên thế giới.
- Khoảng 10,000 năm trước, giống ngựa Bắc Mỹ tuyệt chủng nhưng hậu duệ của nó còn lại ở châu Á và châu Âu.
- Ở châu Á, giống ngựa hoang có tên khoa học là Equus przewalski przewalski poliakov (gọi tắt là Prewalski - tên đại tá người Ba Lan tìm ra giống ngựa hoang này ở Mông Cổ năm 1881)
- Thủy tổ của giống ngựa Mông Cổ đã đóng một vai trò quan trọng và là con vật thân cận nhất của những bộ tộc vùng sa mạc.
- Tại nhiều nơi người ta đã tìm thấy những chứng tích, tranh vẽ chứng tỏ con người đã biết tới con ngựa từ lâu (khoảng 6000 năm trước CN) nhưng lại không chắc chắn rằng con ngựa đã được nuôi như một loài gia súc hay cũng chỉ là một thú vật mà người ta trông thấy trong thiên nhiên.
- Những khai quật mới đây cho thấy chỉ khoảng 4000 năm trước CN người ta mới biết dùng ngựa để kéo xe, trước đó có lẽ chỉ được dùng làm thực phẩm. Trong những di chỉ mà người ta tìm thấy, người Ai Cập đã biết cưỡi ngựa khoảng 2000 năm trước CN, tuy nhiên thời kỳ đó họ chỉ cưỡi trơn không yên cương và chưa biết cách điều khiển con vật.( ) Cho đến bây giờ các nhà khảo cổ vẫn chưa hoàn toàn đồng ý con ngựa được nuôi từ thời nào tại Trung Hoa. Nhiều sử gia cho rằng loài ngựa chỉ được nuôi làm gia súc chừng 5000 năm trước, sau các con vật như chó, dê, cừu, lừa, bò … và những dân tộc ở Trung Á, Ba Tư, Afghanistan … là những người du mục đầu tiên biết cách nuôi và huấn luyện chúng.
- Trong nhiều thời kỳ những dân tộc không biết cưỡi ngựa đã bị đè bẹp, và chính từ hình ảnh một chiến sĩ trên lưng ngựa mà người Hi Lạp thời cổ đã tưởng tượng ra con quái vật thân hình là ngựa, đầu người (centaur).
- Theo một số nhà nghiên cứu, những con ngựa tốt được lai giống đầu tiên là ở Tây Á, những quốc gia như Kazakhstan, Turmenistan, Uzbekistan, Tadzhikistan, Kirghizistan - gọi chung là Turan.
- Trên vùng núi Altai người ta đã tìm thấy sáu mươi chín bộ xương ngựa còn nguyên vẹn và mười tám bộ xương khác không đầy đủ được xác định vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước CN bị đông cứng trong nước đá, gồm hai loại chính: loại nhỏ cao chừng 122 cm, hơi nhỏ hơn loại ngựa hoang, loại lớn cao chừng 143 cm, cao hơn một con ngựa Ả Rập hiện thời. Những con ngựa này đã được tuyển chọn và lai giống kỹ càng.
- Người ta phỏng chừng người Trung Hoa biết cưỡi ngựa vào khoảng thế kỷ thứ bảy trước CN và tới đời Hán, kỵ binh đã trở thành một trong những sức mạnh chính của quân đội.
- Một trong những phát minh đáng kể nhất của người Trung Hoa là cách thắng ngựa bằng ức (breast-strap harnessing system), khởi nguyên vào khoảng thế kỷ thứ tư trước CN.
- Giáp trụ
Sau khi đã biết dùng ngựa để cưỡi, người ta nghĩ ngay đến việc bảo vệ con vật cho khỏi bị sát hại khi giao chiến. Đó là lý do tại sao những bộ giáp trụ dùng cho ngựa được chế tạo. Trong những hình vẽ trong hang đá tìm thấy ở Đôn Hoàng (Dunhuang), giáp trụ của ngựa bao trùm toàn thể con vật, trừ tai, mõm, chân và đuôi. Người cưỡi ngựa cũng mặc áo giáp. Giáp của ngựa gồm sáu bộ phận rời, làm bằng da hay sắt, lại được tô màu rằn ri. Mã giáp được tìm thấy từ thời Tam Quốc rồi tiếp tục phát triển đến đời Tùy, Đường.
RANDOM_AVATAR
CUHUYEN
 
Bài viết: 40
Ngày tham gia: Thứ 7 09/06/07 9:15
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Nét hùng dũng của ngựa trong văn hóa Trung Hoa

Gửi bàigửi bởi CUHUYEN » Thứ 7 26/04/08 14:58

Người Trung Hoa rất coi trọng ngựa
Thời Thượng Cổ
- Ở Trung Hoa lúc đầu người ta chỉ dùng ngựa để kéo xe và có lẽ những chiếc xe ngựa đầu tiên cũng từ những người du mục ở quan ngoại đem vào mà những dân tộc này rất có thể cũng bắt chước những giống dân từ Trung Á hay Bắc Phi.
- Cỗ xe ngựa đầu tiên người ta đào thấy thuộc về đời Thương (khoảng 1600 – 1100 trước CN). Cỗ xe này tương tự như những cỗ xe tìm thấy ở Hắc Hải (Black Sea) và biển Caspian, và ngoài ra cũng tìm thấy nhiều khí giới ở chung quanh khiến người ta cho rằng xe này là một loại chiến xa chứ không phải dùng để chuyên chở không mà thôi.
- Những con ngựa thời đó cao chừng 133 đến 143 cm [13], đầu to, xương thô giống như giống ngựa hoang ở Trung Á ngày nay.
b/ Đời Hán
- Thời nhà Hán (206 trước CN – 220 CN) danh tướng Trung Hoa dưới cái tên Phục Ba tướng quân là Mã Viện, (14 trước CN – 49 CN), người đã đánh bại hai bà Trưng, cũng là một người rất sành sỏi về ngựa đã đưa ra một nhận định rất sâu sắc: “Ngựa là căn bản của binh bị, là nguồn lợi lớn của quốc gia”.
Ông ta đã từng làm thái thú Lũng Tây, cầm binh đánh nhau với rợ Khương nên hiểu được vai trò của con ngựa trong chiến đấu và mối đe dọa to lớn của những bộ tộc du mục bên ngoài dãy Thiên Sơn. Cũng vì thế, những triều đại Trung Hoa bỏ rất nhiều tài nguyên và nhân lực xây Vạn Lý Trường Thành chỉ để ngăn ngừa vó ngựa Hung Nô.
- Những tàu ngựa đầu tiên mà người Trung Hoa gây giống và nuôi được chính là từ giống ngựa hoang Mông Cổ, pha với những con ngựa mua từ Trung Đông. Ngay từ đời thượng cổ khi bị cái họa xâm lăng của người rợ Khuyển Nhung, người Tàu không những họ phải nghiên cứu và tập luyện cách cưỡi ngựa (trước kia họ chỉ biết dùng ngựa để kéo xe) trong chiến đấu mà còn phải tìm và học cách nuôi ngựa để có đủ sức chống lại quân địch.
- Trong nhiều triều đại bị cái nạn Bắc xâm đe dọa nhưng lại chính từ ngoài quan ải và kẻ thù, người Trung Hoa học được của những bộ tộc du mục kỹ thuật chiến tranh, từ việc dùng ngựa để kéo xe, đến các vũ khí bằng kim loại, và rồi thuật kỵ mã. Nhu cầu dùng kỵ binh đã khiến triều đình Trung Hoa phải mua rất nhiều ngựa từ nước ngoài vì luôn luôn phải đối phó với những giống rợ miền bắc mà ngựa bản địa của người Tàu thì kém xa ngựa của kẻ thù.
- Khi Võ Đế lên ngôi, nhà vua đã đem đại quân ra đánh Hung Nô, đuổi được chúng về sa mạc Gobi nhưng cũng tổn thất nặng nể, có trận chết sạch cả chục vạn quân. Vua Võ Đế lại sai người đi tìm mua các giống thiên mã (heavenly horses) và năm 138 trước CN đã sai Trương Kiềm (Zhang Qian) đi sứ mưu tính liên minh với nước Yuezhi để chống lại Hung Nô. Trương Kiềm đã vượt hơn 3000 km, mất khoảng 12 năm và có lúc đã bị Hung Nô cầm tù nhưng sau cùng cũng tới đích, nay là khoảng Afghanistan nhưng vua nước này không còn tha thiết với chuyện này nữa. Dẫu sao Trương Kiềm đã đem về nhiều tin tức thu thập được trong chuyến viễn hành đặc biệt là về giống “hãn huyết mã” (blood-sweating horses) của vùng Ferghana ở Trung Á (nay thuộc về Uzbekistan, Tajikistan, và Kyrgyzstan).
Sau đó Ông lại sai đại tướng Lý Quảng Lợi (Li Guangli) đem 6000 kỵ binh, 20,000 lính sang cướp ngựa. Tuy nhiên chiến dịch này không thành công và tướng sĩ nhà Hán chết gần hết.
Ba năm sau, ông lại sai Lý Quảng Lợi đem 60,000 quân với 30,000 con ngựa, dẫn theo một đoàn gia súc 100,000 con để làm thực phẩm. Lần này họ Lý đem về được 50 con hãn huyết mã và khoảng 1000 con ngựa giống.
- Cũng trong chiến dịch đánh Ferghana, Trương Kiềm đã đi qua nước Ô Tôn (Wusun) là nơi cũng có nhiều ngựa tốt, lai giữa giống ngựa Ferghana với ngựa Mông Cổ.
- Nhà Hán sụp đổ đưa đến việc người Tiên Ti (Xianbei) xâm lăng, chiếm lấy miền bắc Trung Hoa. Người Tiên Ti cũng là một giống Hung Nô thuộc sắc tộc Đột Quyết (Turk), rất thiện thuật kỵ mã, đã xây dựng được một quốc gia hùng mạnh trên lưng ngựa.
c/ Đời Đường
- Khi nhà Đường (618 – 907) làm chủ nước Tàu, họ vốn là gốc dân Tây Vực có truyền thống cưỡi ngựa nên càng gia tăng việc chăn nuôi giống vật hùng tráng này. Nhiều luật lệ và qui tắc được đặt ra cho những mã phu trông coi các tàu ngựa của triều đình.
- Việc giao thương với bên ngoài thịnh đạt, Trường An, thủ đô của nhà Đường là một khu vực thị tứ đứng vào bậc nhất của thế giới, dân số lên đến trên một triệu người trong nội thành và khoảng một triệu khác ở ngoại ô có diện tích lên đến gần 30 dặm vuông (80 km2).
Trong kinh đô có nhiều khu vực cộng đồng thiểu số và ngoại nhân của người Hồi Hột (Uighurs), Đột Quyết (Turks), Tạng (Tibetans), Sogdians … và có đến 300 sứ bộ của các nước khác đem đến buôn bán không những sản phẩm từ bên ngoài mà còn cả những kỹ thuật mới về nhiều mặt như âm nhạc, luyện kim, thuốc men, nhảy múa.
Con đường Lụa (Silk Road) kéo dài từ Trường An đến tận Kashgar được binh đội bảo vệ và dọc theo thông lộ này nhiều thành phố mọc lên, nhiều thương đội (caravan) qua lại rất sầm uất. Nhà Đường đã bành trướng và chinh phục nhiều quốc gia Tây Vực đồng thời mở những con đường giao thông, buôn bán ra Trung Á, xây dựng những trung tâm thương mại lớn ở Kucha, Khotan, Yarkand, Kashgar, Kushar, Tukmak và Karashahr. Một công chúa (Văn Thành) được gả cho vua Tây Tạng để gây tình hòa hiếu.
Khi nhà Đường mới thành lập, họ chỉ có độ 5000 con ngựa. Thế nhưng chỉ 50 năm sau, triều đình đã có tới 706,000 con trong đó có khoảng 50,000 con do các nước Tây Vực tiến cống. Ngựa được chia thành đội, với tên khác nhau theo phẩm chất (phi mã, long mã, phong mã) và theo từng loại (chiến mã, ngự mã, dịch mã). Nếu mã phu làm mất hay làm chết ngựa sẽ bị tội nặng. Cưỡi ngựa được coi là một thú tao nhã chỉ dành riêng cho giới quí tộc trong triều, các giới công thương bị cấm. Vào thời đó đàn bà tương đối tự do và bình đẳng với nam giới, cũng được cưỡi ngựa và tham dự những trò chơi. Trong triều còn có những đội huấn luyện ngựa làm trò cho vua quan coi (dancing horses), nhảy múa theo điệu nhạc.
Hiện nay người ta còn giữ được nhiều hình tượng ngựa đời Đường, và tranh vẽ ngựa, mã phu là một đề tài thông dụng. Giới quí tộc, nhất là đàn bà, thường hay chơi polo --một trò chơi nhập cảng từ Ba Tư -- trên lưng ngựa và nhiều di tích còn lại tới ngày nay.
Những tác phẩm nghệ thuật đời Đường hiện nay còn có được cho ta thấy con ngựa là một trong những đề tài quan trong, là nguồn cảm hứng cho thi nhân và họa sĩ, đồng thời cũng miêu tả khá nhiều những sinh hoạt của người Trung Hoa cách đây hơn một nghìn năm.
Ngựa đời Đường được trang sức bằng nhiều món khác nhau, đuôi ngựa được tết thành một cục nhỏ, bờm cũng được cắt xén thành nhiều kiểu. Cũng như nhiều bộ môn khác, kỵ thuật và phụ tùng đời Đường đã trở nên rất chi li phức tạp, viết thành sách vở. Ngoài ra trong triều đời Huyền Tông còn huấn luyện riêng 100 con ngựa tốt để làm trò. Năm 729, triều đình định ngày sinh nhật của Đường Minh Hoàng là ngày khánh nhật quốc gia gọi là Thiên Thu Tiết (Thousand-Autumn Holiday). Ngày đó ngoài duyệt binh còn cả múa hát vui chơi mà đặc biệt nhất là các xảo thuật của đoàn ngựa tạo thi hứng cho nhiều danh sĩ còn truyền đến nay. Đoàn ngựa này nhiều người vẫn coi là cao điểm của văn minh đời Đường.
d. Đời Tống
Nước Tàu rơi vào cảnh loạn lạc 53 năm mà sử gia gọi là đời Ngũ Đại ở miền Bắc và Thập Triều ở miền Nam. Đến năm 960, một tướng lãnh của nhà Hậu Chu là Triệu Khuông Dẫn bình định được đất nước lên ngôi là Tống Thái Tổ. Sang đời Tống (960-1279), một triều đại lên cao về văn hóa nhưng lại xuống thấp về binh bị và quân sự, ngựa không còn được coi trọng như đời Đường.
Một số chính sách của nhà Tống khiến cho triều đình ngày càng suy yếu. Binh lính nay trở thành một nghề, nghề thấp kém nhất trong xã hội. Nhà Tống lại chủ trương giao hiếu với các rợ phương bắc bằng đường lối mua chuộc, mỗi năm triều cống cho họ vàng bạc và tơ lụa để họ khỏi xâm chiếm. Đời nhà Tống nước Tàu đạt đến cực thịnh về văn hóa, nghệ thuật, triết học. Nhiều ngành nghề và kỹ thuật mới được phát minh trong đó có ngành in mộc bản (wood block printing), kinh tế cũng phát triển và nhiều công trình kiến trúc và nghệ thuật còn được đến ngày nay.
Riêng về binh bị, một trong những nguyên nhân suy yếu chính là vì họ không còn những đoàn ngựa chiến như đời Đường và cũng không còn tuyển được những đoàn quân chịu đánh thuê cho họ. Thành thử trong những trận giao tranh quân Tống đều thua, mỗi lần thua lại phải nhượng bộ về đất đai hay gia tăng cống phẩm. Vào thời kỳ này, người Trung Hoa thường dùng lụa và trà để đổi ngựa nhưng cũng không mấy khi được những giống tốt.
e/ Đời Nguyên
- Người Mông Cổ trở thành một lực lượng quân sự khủng khiếp mà cái ưu điểm chính của họ là con ngựa và thuật kỵ mã. Ngựa là phương tiện di chuyển, bạn đồng hành, và cũng là thực phẩm của chiến sĩ Mông Cổ và có thể nói họ là những kỵ sĩ số một của thế giới thời đó, “… có thể sống mười ngày liên tiếp trên yên ngựa, chỉ uống máu ngựa hút từ một động mạch con vật”.
- Ngựa Mông Cổ là giống rất chịu đựng và dai sức, tuy chỉ cao từ 130 đến 140 cm nhưng lại rất nhiều. Giống ngựa này lại dễ nuôi, chỉ thuần cỏ không cũng đủ và vì thế rất ít tốn kém. Chỉ đến khi họ chiếm được Bắc Kinh năm 1251 thì mới có thêm những bảo mã vùng Ferghana và sau này triều đình nhà Nguyên giữ độc quyền nuôi ngựa.
- Người Mông Cổ biết rằng sức mạnh của họ chủ yếu là kỵ binh nên luôn luôn chú trọng đến việc duy trì một lượng lớn số ngựa nuôi. Mỗi người lính Mông Cổ phải tự chăm lo cho bầy ngựa của mình từ nhỏ cho tới khi đủ năm tuổi mới cưỡi được và tuyệt đối tuân lệnh người cưỡi nó. Đó chính là yếu tố quan trọng để dùng ngựa trong chiến đấu, kỵ sĩ và tọa kỵ là một. Ngựa đực đều bị thiến (gelding) để khi hành quân không nổi cơn bất tử khi thấy ngựa cái và chỉ những con đực khỏe mạnh nhất mới được giữ lại làm giống.
Đối với chiến mã, có những qui luật nghiêm nhặt để dưỡng sức cho tọa kỵ. Ngựa phải được hoàn toàn tự do, không yên cương, không ràng mõm, không chở đồ nặng và chỉ được thắng giàm vào giờ phút cuối cùng trước khi xung trận. Những ai vi phạm bị chém đầu ngay tức khắc.
- Triều đình nhà Nguyên kiểm soát việc nuôi ngựa rất chặt chẽ, những ngựa trong dân chúng thường chỉ là ngựa thiến hay ngựa cái được pha giống với lừa để sinh ra con la, một loài vật vô tính, không sinh sản chỉ dùng trong chuyên chở và kéo xe. Ngựa tốt hầu hết là trong cung vua hay dùng vào dịch trạm.
g/ Đời Minh
Vai trò của con ngựa trong việc chuyên chở đã giảm vì thời đó thủy đạo tại Trung Hoa đã mở mang. Tuy vậy, triều đình mỗi năm phải nhập cảng khoảng 10,000 con ngựa giống từ bên ngoài và thường dùng trà để đổi lấy ngựa với các dân tộc miền Tây Vực. Trong khoảng 20 năm sau khi nhà Minh thành lập, họ đã có khoảng 1,600,000 con nhưng cũng chưa đủ dùng. Hỏa khí và thuốc nổ tuy cuối đời Minh đã được sử dụng trong quân đội như không hiệu quả lắm và không tiện dụng bằng cung nỏ khi ngồi trên lưng ngựa.
h/ Đời Thanh
Người Trung Hoa lại bị cai trị bằng một dân tộc miền Bắc vốn dĩ quen thuộc với cưỡi ngựa bắn cung không khác gì người Mông Cổ. Người Mãn Châu (tức Nữ Chân) vốn không phải là dân du mục mà vốn sống bằng săn bắn, nông nghiệp, đánh cá nhưng sau đó bị người Khất Đan cai trị và đã học được thuật kỵ mã và thuật bắn cung.
Khi họ chiếm được Trung Hoa, những vua đầu tiên đã nổi tiếng là minh quân và thành lập được một đế quốc hùng cường. Họ cũng duy trì được một lực lượng kỵ binh thiện chiến. Vua nhà Thanh cũng nhiều người có tài dùng binh, giỏi cưỡi ngựa, điển hình là vua Khang Hi (1661-1722) là một hoàng đế có tài, từng nhiều lần thân chinh đánh giặc. Vua Càn Long (1736-1795) là người rất thích tuấn mã nên các quốc gia Tây Vực thường chọn ngựa tốt đem tiến cống. Chỉ đến thế kỷ thứ 19, khi các nước Âu Tây đã phát triển nhiều về các loại vũ khí mới, kỵ binh Trung Hoa mới không còn hữu hiệu.
Một vài kết luận:
- Ngựa là loài sinh trưởng ở vùng sa mạc thảo nguyên.
- Đường đi của Ngựa vào Trung Hoa là từ phía Bắc - Tây Bắc Trung Hoa xuống Đông - Nam.
- Giá trị của nó lan toả bằng con đường giao thông và chiến tranh.
- NHìn vào quá trình thay đổi biểu tượng: Lúc đầu người Trung Hoa lấy Ngựa làm biểu tượng cho dân tộc mình, sau đổi thành con vật mình ngựa đầu rồng, rồi đến Cọp và sau cùng là Rồng, cũng cho thấy phần nào con đường đi từ Tây Bắc xuống Đông Nam của văn hoá Ngựa và chứng tỏ phương Nam không phải là vùng thích hợp với văn hoá Ngựa.
- Các triều đại có yếu tố Phương Nam cũng không đề cao Ngựa bằng các triều đại nặng yếu tố phương Bắc. Triều đại đề cao văn hoá (âm) thì vai trò của ngựa (chiến tranh – dương) không được đề cao.
RANDOM_AVATAR
CUHUYEN
 
Bài viết: 40
Ngày tham gia: Thứ 7 09/06/07 9:15
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Nét hùng dũng của ngựa trong văn hóa Trung Hoa

Gửi bàigửi bởi koyuchien » Chủ nhật 27/04/08 23:26

Chúc bài tiểu luận của Bạn MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG
[center]Hình ảnh[/center]
KOYUCHIEN
RANDOM_AVATAR
koyuchien
 
Bài viết: 16
Ngày tham gia: Thứ 3 01/01/08 7:37
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Nét hùng dũng của ngựa trong văn hóa Trung Hoa

Gửi bàigửi bởi phanthikimanh » Thứ 2 08/09/08 12:22

Con ngựa trong kinh doanh của người Hoa

Nói về tranh ngựa, câu Mã đáo thành công không ai không biết. Chúc mừng khánh thành hay khai trương nhà máy , công ty thế nào cũng có tranh Mã đáo thành công của quan khách tặng.

Người Hoa thường treo 3 loại ảnh: Tranh thuỷ mặc, tranh chữ (thư hoạ) hoặc tranh ngựa. Nếu như tranh thuỷ mặc có ý nghĩa nhắc nhở về nơi chôn rau cắt rốn , nơi đã nuôi dưỡng mình lớn lên; Thư hoạ giúp người chủ bức tranh luôn nhìn mỗi ngày để tự răn mình , để tịnh tâm hay để nhớ về tổ tông , họ tộc thì tranh ngựa lại ước nguyện may mắn và thành đạt.

Một bức tranh Mã đáo thành công vẽ bao nhiêu con ngựa là có ý nghĩa riêng . Có thể là Nhất mã đương nhiên, một con ngựa đi đầu như là một đầu tàu gương mẫu cho người đi sau noi theo hoặc Tứ mã nan truy (bốn con ngựa chạy khó đuổi theo) hay Lục mã phù trì (sáu con ngựa trợ giúp) đều mang ý nghĩa tích cực. Tuyệt đối không ngũ mã bởi ngũ mã phân thây là hình thức xử tội rất nặng trong thời phong kiến Trung Hoa ngày xưa. Còn thất mã cũng vậy, thất trong âm Hán Việt còn có nghĩa là mất, mà mất mát thua lỗ là chuyện không doanh nghiệp nào muốn. Con số tốt nhất trong tranh ngựa là bát mã, tức 8 con ngựa. Bát với phát phát âm gần giống nhau nhau, có nghĩa phát tài phát lộc.

Trong 12 con giáp thì rồng và ngựa được xem là hai con vật may mắn nhất. Chính vì thế trong nhiều câu liễn tết , các ông đồ vẫn thường dùng Long mã tinh thần như một lời chúc tốt đẹp nhất. Trong các dịp chúc mừng hoặc khai trương có lời chúc tết nghiệp hoàng khai, tức chúc làm ăn ngày càng phát đạt. Một doanh nghiệp phát triển luôn nhìn về phía trước để tiến tới, không dừng bước, không ngại khó mà con ngựa thì có đủ những đức tính đó. Mã bất đình đề (ngựa không dừng vó) là vậy. Không chỉ phát triển bình thường mà phải phát triển nhanh, mạnh theo cách nhật hành thiên lý tức ngày đi vạn dặm như con tuấn mã. Do vậy mà con ngựa trong các tranh vẽ đều thật dũng mãnh, gân guốc như đang thời kỳ sung sức nhất.

Vì ngựa ngày đi vạn dặm mà người ta đã ví von bóng câu qua cửa sổ (bạch câu quá khích) với thời gian vùn vụt qua nhanh. Ngựa còn là biểu tượng của may mắn nên khi treo tranh ngựa thì treo chiều ngựa chạy vào nhà với ý nghĩa may mắn sẽ đến với gia chủ.

Trâu cày ngựa cưỡi, ngựa để kéo xe, để xung trận. Khi sống ngựa đã có ích, chết cũng không vô ích. Trong Đông y, thịt ngựa được xem là vị thuốc trị suyễn khá hữu hiệu. Lông đuôi ngựa là vật liệu không thể thay thế được trong việc chế tạo archet (cần) để kéo đàn Violon. Chính nhờ lông đuôi ngựa mà tiếng vĩ cầm mới trong và trở nên huyền hoặc. Lông đuôi ngựa còn là vật liệu tốt nhất để sản xuất các loại bút lông, dùng vẽ tranh thuỷ mặc, câu đối, thư hoạ.... Cây bút lông đuôi ngựa thứ thiệt rất có giá trị.

(Theo TBKTSG)
Tiếng chim hót trong bụi mận gai...
Hình đại diện của thành viên
phanthikimanh
 
Bài viết: 381
Ngày tham gia: Thứ 7 30/06/07 20:55
Đến từ: TP. Hồ Chí Minh
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Nét hùng dũng của ngựa trong văn hóa Trung Hoa

Gửi bàigửi bởi phanthikimanh » Thứ 2 08/09/08 12:26

Tái Ông mất ngựa - phúc hay họa còn chưa biết được

Nhân nói về ngựa Trung Hoa, xin dẫn một câu chuyện chép trong sách Hoài Nam Tử liên quan đến ngựa rất có ý nghĩa như sau:

"Một ông lão ở gần biên giới giáp với nước Hồ phía Bắc nước Tàu, gần Trường thành, có nuôi một con ngựa. Một hôm con của ông lão dẫn ngựa ra gần biên giới cho ăn cỏ, vì lơ đễnh nên con ngựa vọt chạy qua nước Hồ mất dạng. Những người trong xóm nghe tin đến chia buồn với ông lão.

Ông lão là người thông hiểu việc đời nên rất bình tĩnh nói: - Biết đâu con ngựa chạy mất ấy đem lại điều tốt cho tôi.

Vài tháng sau, con ngựa chạy mất ấy quay trở về, dẫn theo một con ngựa của nước Hồ, cao lớn và mạnh mẽ.

Người trong xóm hay tin liền đến chúc mừng ông lão, và nhắc lại lời ông lão đã nói trước đây.

Ông lão không có vẻ gì vui mừng, nói: Biết đâu việc được ngựa Hồ nầy sẽ dẫn đến tai họa cho tôi.

Con trai của ông lão rất thích cỡi ngựa, thấy con ngựa Hồ cao lớn mạnh mẽ thì thích lắm, liền nhảy lên lưng cỡi nó chạy đi. Con ngựa Hồ chưa thuần nết nên nhảy loạn lên. Có lần con ông lão không cẩn thận để ngựa Hồ hất xuống, té gãy xương đùi, khiến con ông lão bị què chân, tật nguyền.

Người trong xóm vội đến chia buồn với ông lão, thật không ngờ con ngựa không tốn tiền mua nầy lại gây ra tai họa cho con trai của ông lão như thế.

Ông lão thản nhiên nói: Xin các vị chớ lo lắng cho tôi, con tôi bị ngã gãy chân, tuy bất hạnh đó, nhưng biết đâu nhờ họa nầy mà được phúc.

Một năm sau, nước Hồ kéo quân sang xâm lấn Trung Nguyên. Các trai tráng trong vùng biên giới đều phải sung vào quân ngũ chống ngăn giặc Hồ. Quân Hồ thiện chiến, đánh tan đạo quân mới gọi nhập ngũ, các trai tráng đều tử trận, riêng con trai ông lão vì bị què chân nên miễn đi lính, được sống sót ở gia đình."

Sau khi kể câu chuyện trên, sách Hoài Nam Tử đưa ra luận điểm: Họa là gốc của Phúc, Phúc là gốc của Họa. Họa Phúc luân chuyển và tương sinh. Sự biến đổi ấy không thể nhìn thấy được, chỉ thấy cái hậu quả của nó.

Do đó, người đời sau lập ra thành ngữ: "Tái ông thất mã, an tri họa phúc". Nghĩa là: ông lão ở biên giới mất ngựa, biết đâu là họa hay là phúc.

Hai điều họa phúc cứ xoay vần với nhau, khó biết được, nên khi được phước thì không nên quá vui mừng mà quên đề phòng cái họa sẽ đến; khi gặp điều họa thì cũng không nên quá buồn rầu đau khổ mà tổn hại tinh thần. Việc đời, hết may tới rủi, hết rủi tới may, nên bắt chước tái ông mà giữ sự thản nhiên trước những biến đổi thăng trầm trong cuộc sống.

Sưu tầm
Tiếng chim hót trong bụi mận gai...
Hình đại diện của thành viên
phanthikimanh
 
Bài viết: 381
Ngày tham gia: Thứ 7 30/06/07 20:55
Đến từ: TP. Hồ Chí Minh
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần


Quay về Văn hóa Trung Quốc và Đông Bắc Á

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách

cron