[center]LOẠI HÌNH VĂN HÓA CỦA NHẬT BẢN[/center]
[justify]Khi nghiên cứu về loại hình văn hóa của Nhật Bản, nhiều người ngộ nhận rằng Nhật Bản thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp. Bởi xét theo khu vực, phương Đông thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp và phương Tây thuộc loại hình văn hóa gốc du mục. Đây là hai loại hình văn hóa mang tính bao trùm và tất cả các loại hình văn hóa đều thuộc hai loại hình này. Chính vì vậy, khi quy chiếu vào khu vực thì Nhật Bản nằm ở khu vực châu Á (thuộc về phương Đông so với phương Tây) nên nhiều người nghĩ Nhật Bản thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ thì ta thấy ở Nhật Bản có sự đan xen của cả hai loại hình trên, hay có thể gọi là loại hình văn hóa trung gian.
Đặc điểm của loại hình văn hóa gốc du mục
Xét về địa hình, phần lớn địa hình Nhật Bản là núi đồi, không thích hợp với nông nghiệp. Mặc dù đồng bằng có nhưng lại rất ít, do vậy người Nhật Bản rất thường bị thiếu gạo để ăn. Để khắc phục tình trạng thiếu ăn, từ ngàn xưa người Nhật đã biết tận dụng ưu thế địa hình bốn bề giáp biển để phát triển chăn nuôi, đánh bắt cá (cá voi, cá sacdin…). Chính vì vậy, ngày nay nghề đang bắt cá ở Nhật Bản rất phát triển, được trang bị các loại tàu rất hiện đại và quy mô đứng nhất nhì thế giới.
Người Nhật rất chú trọng phát triển thương mại. Bởi nó có vai trò quan trọng làm cho quốc gia trở nên giàu có và hùng mạnh. Các cá nhân không chỉ làm giàu chính đáng cho mình mà luôn có ý thức làm giàu cho quốc gia, dân tộc. Nhiều địa phương ở Nhật Bản đã tận dụng những lợi thế ở vùng mình phát triển các nghề thủ công hay tạo ra đặc sản đặc trưng của mỗi vùng (còn gọi là Omiyage). Ngay từ thời trung đại, nhiều công trường chuyên môn hóa đã xuất hiện ở Nhật Bản. Sự phân công lao động trong công việc không những số lượng làm ra nhiều mà sản phẩm tạo ra cũng hoàn hảo hơn.
Sùng bái Thiên Hoàng cũng là một trong những biểu hiện của văn hóa gốc du mục. Thiên Hoàng được tôn như là người đại diện cho nữ thần Mặt Trời xuống chỉ bảo con cháu của người. Mặc dù ngày nay Thiên Hoàng không còn nắm giữ quyền lực (quyền lực nằm trong tay thủ tướng) nhưng sự hiện diện của Thiên Hoàng vẫn còn ý nghĩa quan trọng trong tâm thức người Nhật. Bên cạnh việc đề cao Thiên Hoàng, những người đứng đầu tổ chức (shachou, buchou, kachou) cũng được đề cao, kính trọng. Do ảnh hưởng của phương Tây ngày nay cá nhân cũng được chú trọng phát triển. Từ khi mở cửa học hỏi và tiếp thu nền văn minh phương Tây, chính quyền Minh trị đã nhận ra rằng muốn phát triển đất nước thì cần phải coi trọng lợi ích con người về cả vật chất lẫn tinh thần. Đặc biệt, Meiji chú trọng phát triển giáo dục, nâng cao vốn tri thức hiểu biết của con người. Do vậy, ngoài việc mở thêm nhiều trường học hỏi những điều mới, Meiji còn mời người nước ngoài về giảng dạy, phổ cập giáo dục… Có thể nói, người Nhật Bản rất chú trọng phát triển yếu tố con người.
Sự “học hỏi phương Tây, đuổi kịp phương Tây, vượt qua phương Tây” đã dần dần khép người Nhật Bản vào kỷ luật. Tất cả mọi thứ đều được người Nhật chuẩn hóa. Do vậy, nhiều hình thức nghệ thuật được người Nhật Bản nâng lên thành đạo (道 dou) như trà đạo (sadou hay chadou), kiếm đạo (kendou), nhu đạo (judou)… Trong các mối quan hệ xã hội và các tổ chức, tính kỷ luật càng thể hiện rõ hơn qua “tôn ti trật tự” như “Công ty mẹ và con”; Hội sở và chi nhánh, quan hệ cấp trên cấp dưới, “lớp trước và lớp sau”; khách hàng và người bán hàng.
Như vậy, yếu tố bản địa cùng với các yếu tố tiếp thu từ phương Tây đã tạo nên loại hình văn hóa gốc du mục ở Nhật Bản. Tất cả những yếu tố trên đã giúp người Nhật Bản đủ khả năng vươn lên từ đống tro tàn của Đại chiến thế giới II, trở thành cường quốc châu Á và thế giới.
Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại và phát triển của mình cùng với vị trí nằm ở châu Á mà Nhật Bản cũng phần nhiều chịu ảnh hưởng nền văn hóa trọng tĩnh, coi trọng tập thể của phương Đông.
Đặc điểm của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp
Khí hậu khắc nghiệt, tài nguyên nghèo nàn, thiên tai (núi lửa, động đất, sóng thần…) khiến cho đời sống của con người càng trở nên khó khăn. Chính những yếu tố đó đã giúp người Nhật Bản cố kết thành gia đình lớn luôn giúp đỡ lẫn nhau.
Yếu tố tín ngưỡng
Thần đạo là tôn giáo bản địa của Nhật Bản, có từ xa xưa. Người Nhật tin rằng chính các thần (kami) đã sinh ra dân tộc họ. Điều này đã giúp họ ý thức về một dân tộc có cùng chung huyết thống. Bên cạnh Thần đạo, Phật giáo cũng được du nhập vào Nhật Bản từ rất sớm và nhanh chóng được người Nhật đón nhận, bởi nó phù hợp với lối sống và tư tưởng của người Nhật. Mặc dù ngày nay Nhật Bản là một nước rất phát triển nhưng tín ngưỡng vẫn không tách rời đời sống tín ngưỡng của người dân. Vào các ngày tết, người Nhật thường ăn mặc đẹp đi viếng các đền thần, hay trong đám cưới họ cũng sử dụng các nghi thức Thần đạo. Tuy nhiên, người Nhật lại chôn cất người chết theo nghi thức Phật giáo.
Tính tập thể - coi trọng cộng đồng
Sau thất bại trong đại chiến thế giới thứ hai, Nhật Bản bị tàn phá nặng nề do hai quả bom ném xuống hai thành phố Nagasaki và Hiroshima, đưa Nhật Bản trở về thời nguyên thủy. Tuy nhiên, cả nước Nhật đã gắn kết lại chăm lo phát triển đất nước. Sau 15 năm khôi phục và xây dựng Nhật Bản đã lấy lại vị trí cường quốc thế giới của mình.
Trong công ty, tinh thần tập thể của người Nhật biểu hiện rất cao. Người ta so sánh một người nước ngoài có thể làm hơn một người Nhật, nhưng ba người nước ngoài sẽ làm thua người Nhật. Khi làm việc tập thể, người Nhật rất tôn trọng ý kiến tập thể. Một cá nhân thường không quyết định thay cho công ty dù cho là những người đứng đầu công ty như shachou hay buchou mà đều phải thông qua tất cả ý kiến của nhân viên trong hội họp. Do đó, mọi công việc thường được tiến hành rất tốt đẹp. Hơn nữa, các cá nhân đều có ý thức làm việc cho tập thể, cộng đồng. Họ luôn sẵn sàng hi sinh cá nhân vì tập thể, hướng tới lợi ích chung của cộng đồng. Từ tính tập thể này mà người Nhật thường dễ dung hòa tránh xung đột, mâu thuẫn trong tập thể.
Tính tập thể của người Nhật Bản còn được thể hiện qua chế độ tuyển dụng suốt đời. Điều này thể hiện sự trung thành tuyệt đối của cá nhân đối với công ty, làm cho cá nhân luôn có ý thức phục tùng và xem công ty như mái nhà chung của mình. Tuy nhiên mặt trái của nó là dễ sinh ra tính ỷ lại đồng thời những người không có năng lực tạo nên gánh nặng cho công ty.
Lưu giữ truyền thống văn hóa dân tộc
Thời kỳ cải cách Minh trị (1868-1912), bên cạnh học hỏi tiếp thu có chọn lọc nền văn minh phương Tây người Nhật cũng rất đề cao bản sắc văn hóa dân tộc. Do nằm ở vị trí địa lý cô lập với thế giới bên ngoài, Nhật Bản có điều kiện gìn giữ và phát triển truyền thống văn hóa vốn có của mình. Cho đến khi Mỹ đến gõ cửa buộc Nhật Bản thông thương, bên cạnh bảo lưu bản sắc dân tộc người Nhật đã du nhập và cải hóa những cái mới của người thành cái của mình. Chính vì vậy, ở Nhật Bản ngày nay luôn có sự tồn tại của cả hai yếu tố Nhật Bản (washiki) và yếu tố phương Tây (yoshiki).
Dung hòa trong quan hệ ứng xử
Người Nhật Bản đối nhân xử thế rất khéo léo. Những lời nói của họ đều luôn tránh xúc phạm đến người khác. Họ không bao giờ nói thẳng, hay nói trực tiếp vào vấn đề và luôn khéo léo từ chối sự việc. Điều này thể hiện rất rõ trong cách nói của họ. Dường như câu xin lỗi (gomennasai) và cám ơn (arigatou) đã trở thành câu cửa miệng của họ. Chính vì vậy, nhiều người học tiếng Nhật cảm thấy khó khăn để đoán biết người Nhật đồng tình hay phản đối.
Như vậy, tất cả các yếu tố trên đã tạo nên nét đặc thù trong nền văn hóa Nhật Bản. Đó là loại hình văn hóa trung gian, vừa trọng tĩnh vừa trọng động, vừa coi trọng tập thể vừa đề cao cá nhân. Chính yếu tố này, người Nhật Bản luôn hành động thực tế, nhìn thẳng vào vấn đề nên thường đạt được kết quả cao trong công việc./.
Đây là ý kiến của mình về loại hình văn hóa của Nhật Bản, không biết có gì sai sót không. Mình rất vui nếu các bạn đóng góp ý kiến cho mình[/justify]

[/center]