Đàn tranh Trung Quốc
Đàn tranh Trung Quốc
1. Không gian văn hóa
Phát sinh ở Trung Quốc và ảnh hưởng đến các quốc gia khác như Nhật, Hàn Quốc, Việt Nam…
2. Thời gian văn hoá
Đàn tranh Trung Quốc đọc là zheng (tsân) được xuất hiện giữa khoảng thế kỷ thứ ba trước công nguyên vào cuối nhà Tần. Bề dài cây đàn dài lối 1m50, mặt đàn làm bằng cây ngô đồng. Có 13 dây tơ theo truyền thống Bắc Kinh hay 16 dây sắt theo truyền thống Quảng Ðông, được căng dài trên mặt âm bảng. Ngày nay ở Ðài Loan, cây đàn tranh có cây ngắn độ 1 thước và cây dài tới 1m,80.
Cây đàn tranh Kayakeum (của Hàn Quốc) là một trong ba cây đàn tranh chính của triều đại Silla, có 12 dây tơ căng dài trên mặt âm bảng, trên 12 con nhạn hình chữ A, nhưng không có trục. Trong quyển Silla cổ ký, hoàng đế Kashil của vương quốc Kaya đã sửa đổi thêm bớt một cây đàn của nhà Ðường. Theo truyền thuyết cho rằng cây đàn tranh Kayakeum được phát triển từ một cây đàn dây gọi là "cầm" (qin) đã có từ thời Tam Quốc. Như thế thì cây đàn tranh Kayakeum có trước thời vương quốc Kaya. Vào thế kỷ thứ 6 Công nguyên, một nhạc sĩ nổi tiếng tên là Uruk không những giỏi về tài đàn tranh Kayakeum, mà còn có tài sáng tác.
Theo truyền thuyết, một nhạc sĩ người Trung Quốc đem một cây đàn tranh vào Nhật và cây đàn ấy gọi là So-no-koto hiện vẫn còn được sử dụng trong vũ điệu cung đình cổ truyền Bugaku. Ðàn tranh Koto không có trục giống như đàn Kayakeum của Ðại Hàn. Người đàn mang móng vào ngón tay cái trỏ và giữa của bàn tay mặt và dùng ba ngón tay trỏ, giữa, và áp út của bàn tay trái mang móng đeo ở ngón tay thì đủ biết người đàn thuộc trường phái nào (Gagaku, Tsukushi-goto, Ikuta, Yamada). Ðàn tranh Koto có thể đàn độc tấu, tam tấu với với đàn tam shamisen, ống tiêu shakuhachi, hay đàn trong dàn nhạc cổ điển hay cận đại.
Ðàn Tranh Việt Nam còn được gọi là Ðàn Thập Lục (16 dây). Thùng đàn dài khoảng từ 100cm tới 110cm. Một đầu rộng từ 17cm tới 20cm, và một đầu nhỏ cỡ 12cm tới 15cm. Mặt âm bảng làm bằng cây ngô đồng hình cầu vòng. Thành đàn làm bằng gỗ trắc. Ðáy đàn làm bằng một miếng ván có khoét ba cái lỗ: lỗ hình bán cầu ở phía dưới đầu đàn để có chỗ cột dây đàn cho đừng bị tuột dây; lỗ thứ nhì hình chữ nhựt ở giữa đáy đàn dùng để cho người đàn có nơi để xách đàn, và lỗ thứ ba tròn và nhỏ dùng để treo đàn trên vách tường sau khi hết muốn đàn nữa.
3. Chủ thể văn hoá
Do người Trung Quốc sáng chế và lan toả nhiều nơi nhưng mỗi nơi lại có hình dáng, phong cách chơi, âm thanh phát ra khác nhau. Tiếng đàn tranh Việt Nam nghe vui tươi, réo rắc, tiếng đàn tranh Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc nghe trầm buồn hơn.
1. Không gian văn hóa
Phát sinh ở Trung Quốc và ảnh hưởng đến các quốc gia khác như Nhật, Hàn Quốc, Việt Nam…
2. Thời gian văn hoá
Đàn tranh Trung Quốc đọc là zheng (tsân) được xuất hiện giữa khoảng thế kỷ thứ ba trước công nguyên vào cuối nhà Tần. Bề dài cây đàn dài lối 1m50, mặt đàn làm bằng cây ngô đồng. Có 13 dây tơ theo truyền thống Bắc Kinh hay 16 dây sắt theo truyền thống Quảng Ðông, được căng dài trên mặt âm bảng. Ngày nay ở Ðài Loan, cây đàn tranh có cây ngắn độ 1 thước và cây dài tới 1m,80.
Cây đàn tranh Kayakeum (của Hàn Quốc) là một trong ba cây đàn tranh chính của triều đại Silla, có 12 dây tơ căng dài trên mặt âm bảng, trên 12 con nhạn hình chữ A, nhưng không có trục. Trong quyển Silla cổ ký, hoàng đế Kashil của vương quốc Kaya đã sửa đổi thêm bớt một cây đàn của nhà Ðường. Theo truyền thuyết cho rằng cây đàn tranh Kayakeum được phát triển từ một cây đàn dây gọi là "cầm" (qin) đã có từ thời Tam Quốc. Như thế thì cây đàn tranh Kayakeum có trước thời vương quốc Kaya. Vào thế kỷ thứ 6 Công nguyên, một nhạc sĩ nổi tiếng tên là Uruk không những giỏi về tài đàn tranh Kayakeum, mà còn có tài sáng tác.
Theo truyền thuyết, một nhạc sĩ người Trung Quốc đem một cây đàn tranh vào Nhật và cây đàn ấy gọi là So-no-koto hiện vẫn còn được sử dụng trong vũ điệu cung đình cổ truyền Bugaku. Ðàn tranh Koto không có trục giống như đàn Kayakeum của Ðại Hàn. Người đàn mang móng vào ngón tay cái trỏ và giữa của bàn tay mặt và dùng ba ngón tay trỏ, giữa, và áp út của bàn tay trái mang móng đeo ở ngón tay thì đủ biết người đàn thuộc trường phái nào (Gagaku, Tsukushi-goto, Ikuta, Yamada). Ðàn tranh Koto có thể đàn độc tấu, tam tấu với với đàn tam shamisen, ống tiêu shakuhachi, hay đàn trong dàn nhạc cổ điển hay cận đại.
Ðàn Tranh Việt Nam còn được gọi là Ðàn Thập Lục (16 dây). Thùng đàn dài khoảng từ 100cm tới 110cm. Một đầu rộng từ 17cm tới 20cm, và một đầu nhỏ cỡ 12cm tới 15cm. Mặt âm bảng làm bằng cây ngô đồng hình cầu vòng. Thành đàn làm bằng gỗ trắc. Ðáy đàn làm bằng một miếng ván có khoét ba cái lỗ: lỗ hình bán cầu ở phía dưới đầu đàn để có chỗ cột dây đàn cho đừng bị tuột dây; lỗ thứ nhì hình chữ nhựt ở giữa đáy đàn dùng để cho người đàn có nơi để xách đàn, và lỗ thứ ba tròn và nhỏ dùng để treo đàn trên vách tường sau khi hết muốn đàn nữa.
3. Chủ thể văn hoá
Do người Trung Quốc sáng chế và lan toả nhiều nơi nhưng mỗi nơi lại có hình dáng, phong cách chơi, âm thanh phát ra khác nhau. Tiếng đàn tranh Việt Nam nghe vui tươi, réo rắc, tiếng đàn tranh Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc nghe trầm buồn hơn.