Tôi cũng
không đồng ý với ý kiến
Việt Nam là
bản sao của
Trung Quốc 
. Cũng như bạn trieuvhhk02 tôi cho rằng bản sao thì phải thật sự giống hoàn toàn với bản gốc nhưng Việt Nam thì không giống hoàn toàn với Trung Quốc. Chẳng qua là văn hóa của ta có nhiều nét tương đồng với Trung Quốc do sự ảnh hưởng của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa trong thời kỳ Bắc thuộc và những giai đoạn tiếp sau. Đồng ý là ta có tiếp thu các nét văn hóa của Trung Hoa nhưng ta tiếp nhận một cách có chọn lọc và chủ động cải biến các nét văn hóa ấy sao cho phù hợp với tập tục và lối sống của người Việt (trong thời kỳ Bắc thuộc ta chối từ Nho giáo ngưng khi đã giành lại được chủ quyền thì ta lại chủ động tiếp nhận Nho giáo nhưng không nhất thiết phải theo khuôn khổ các đạo lý của Nho giáo, ví dụ như người chồng không được bỏ người vợ nếu người vợ: (1) đã có công với gia đình chồng, (2) đã chịu tang bên gia đình chồng, (3) không còn nơi nào khác để đi ngoài gia đình chồng).
“Hàng ngàn năm về trước Việt Nam và Trung Hoa có mối quan hệ lịch sử thật đặc biệt, ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đối với người Việt từ lâu đã rất sâu sắc về nhiều mặt. Với sự xâm lược của đế chế Hán mở đầu cho thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất, Việt Nam đã từ một nước trong vùng văn hóa Đông Nam Á chuyển sang một nước tiếp xúc trực tiếp với văn hóa Hán và kể từ đấy những mốc giao lưu, tiếp nhận văn hóa giữa Hán và Việt đã diễn ra thường trực, lâu dài cho đến khi Việt Nam giành được độc lập (938) và cả cho đến nhiều thế kỷ về sau này. Quá trình xâm nhập và ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai nền văn hóa có những đặc điểm nổi bậc đáng lưu ý mà đặc điểm đáng nói nhất là người Việt đã tiếp thu văn hóa Trung Hoa với bản lĩnh của một dân tộc không bao giờ chịu lệ thuộc, trái lại biết giữ vững bản sắc của mình. Chữ Hán tuy được dùng rộng rãi trong công văn giấy tờ và trong văn chương sách vở của người Việt cho đến tận thế kỷ XX, song song với Tiếng Việt nhưng đấy vẫn là chữ Hán của người Việt Nam, phản ánh tâm hồn, tình cảm thậm chí sắc thái ngữ điệu của người Việt Nam. Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo tuy ăn sâu vào mọi tầng lớp dân chúng hoặc được Nhà nước phong kiến Việt Nam dùng làm hệ tư tưởng chính thống nhưng xét kĩ vẫn không phải là Phật, Đạo, Nho y nguyên như Trung Quốc” (Nguyễn Cẩm Thúy – Định cư của người Hoa trên đất Nam Bộ từ thế kỷ XVII đến năm 1945, trang 46,47).
“ Quốc gia Âu Lạc của người Lạc Việt chúng ta tiếp xúc với văn minh Trung Hoa trong điều kiện bị xâm lược, mất chủ quyền, bị thống trị và áp bức rất tàn bạo. Chính trong thời kỳ khắc nghiệt này của lịch sử, trước thử thách mất còn của dân tộc, tổ tiên ta đã chọn con đường, một mặt đấu tranh kiên cường chống ngoại xâm giải phóng dân tộc, mặt khác chủ động giao lưu cởi mở tiếp nhận nhiều tiến bộ của văn minh Trung Quốc, tự cường nền văn hóa của mình. Để cuối cùng với cuộc khởi nghĩa Ngô Quyền 938 chúng ta vừa đánh đuổi bọn xâm lược ra khỏi bờ cõi, khôi phục độc lập dân tộc vừa tự cường đổi mới nền văn hóa Đông Sơn để hình thành nền văn hóa Đại Việt, mở đầu là văn hóa Lý – Trần rực rỡ. Giai đoạn tiếp biến văn hóa vô cùng quan trọng và diễn ra trên nhiều phương diện với nội dung phong phú: chính trị, luật pháp, tổ chức nhà nước, giáo dục – đào tạo, ý thức hệ, tôn giáo – tín ngưỡng, phong tục, văn học – nghệ thuật… Đây không phải là “Hán hóa” như có học giả đã quan niệm mà là “bản địa hóa”,”nội sinh hóa” nền văn hóa Trung Hoa. Văn hóa Đại Việt ra đời trong giai đoạn này chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Hán nhưng không phải là văn hóa Hán” (Ngô Đức Thịnh – Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam, trang 125)
Đâu phải chỉ có ta chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc mà chính Trung Quốc cũng chịu ảnh hưởng từ ta. Ví dụ như kiến trúc mái cong của ngôi nhà của Trung Quốc là ảnh hưởng từ Việt Nam.
“Ngôi nhà của người Việt Nam được làm với chiếc mái cong mô phỏng hình thuyền. Nhiều người quen nghĩ rằng đặc điểm mái cong này là vay mượn của kiến trúc Trung Hoa, trong khi thực ra là ngược lại. Nhà sàn Việt Nam từ thời Đông Sơn (chưa hề giao lưu với Trung Hoa) đã có mái cong rồi. Nhà rông, nhà mồ Tây Nguyên đến giờ vẫn làm mái cong, tuy rằng cũng không hề giao lưu với Trung Hoa… nhà Trung Hoa thời Hán mái vẫn thẳng; đến cuối đời Đường lối làm nhà mái cong mới thâm nhập từ Nam lên Bắc. Thậm chí Cố Cung Bắc Kinh xây dựng đời Minh mà mái chỉ hơi cong nhẹ” (Trần Ngọc Thêm – Cơ sở văn hóa Việt Nam, trang 217).
