gửi bởi LuuTuanAnh » Thứ 4 10/09/08 15:24
Trước hết mình xin cám ơn những lời đóng góp chân thành và hữu ích của mọi người về bài viết đã đăng lên diễn đàn của mình. Mình cũng chưa hẳn đã hoàn thành xong bài tiểu luận này nhưng trong phạm vi khả năng có thể và trên cơ sở những gì mình đã có thì mình cũng xin đưa ra một vài ý phản hồi như sau:
Thứ nhất: Tập tục “Bất lạc phu gia” (不落夫家, tạm dịch là “Không về nhà chồng”), còn được gọi là “Thường trú nương gia” (“长住娘家”, tạm dịch là “Sống lâu ở nhà mẹ”), hay “Tọa gia” (“坐家”, tạm dịch là “Ở nhà”) là một loại tập tục hôn nhân lâu đời vẫn còn được lưu truyền trong một bộ phận Hán tộc ở vùng phía Nam và một số dân tộc thiểu số vùng Tây Nam – Trung Quốc, bao gồm các vùng như Quảng Đông, Phúc Kiến, Quảng Tây (vùng văn hóa Hoa Nam – Trung Quốc), Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu (vùng văn hóa Tây Nam – Trung Quốc),…
Tập tục này thịnh hành vào sơ kỳ chế độ phụ quyền, thời cổ đại các dân tộc ở Trung Quốc đều tồn tại phổ biến loại hình này, đến thời cận hiện đại thì lưu hành ở các dân tộc thiểu số cùng với một bộ phận khu vực Hán tộc vùng phía nam Trung Hoa. Bài tiểu luận của mình với nội dung xoay quanh khai thác tập tục hôn nhân này ở vùng văn hóa Hoa Nam - Trung Quốc dưới góc nhìn văn hóa, nơi thể hiện rõ nét về sự hình thành, tính phổ biến, hình thức biểu hiện, cũng như sự lưu truyền đến ngày nay của tập tục. Vì vậy bài viết này chỉ giới hạn không gian nghiên cứu trong vùng văn hóa Hoa Nam. Mặt khác ở mức độ của một bài tiểu luận thì mình nghĩ việc giới hạn này là phù hợp, ở những mức cao hơn như luận văn Thạc sĩ hay Tiến sĩ gì đó thì việc mở rộng không gian so sánh ra thì thật sự cần thiết.
Thứ hai: Trong bài giới thiệu trước mình đã dùng khái niệm “đặc thù” để nói về tập tục này. “Đặc thù” ở đây có thể hiểu là đặc thù về khu vực hay đặc thù về tính chất.Tập tục này hình thành, lưu hành ở những khu vực trước vốn thuộc vùng văn hóa Bách Việt, vì vậy những hình thức biểu hiện của tập tục này mang tính điển hình của vùng văn hóa nông nghiệp lúa nước, thể hiện những đặc trưng về quan niệm, lối sống của những cư dân vốn có nguồn gốc từ tộc người Bách Việt.
(Có lẽ ở đây do cách dùng từ của mình không phù hợp lắm nên đã gây ra một vài sự hiểu nhầm, vì vậy trong bài viết hoàn chỉnh của mình mình cũng đã tránh việc dùng từ “đặc thù” này.)
Thứ ba: Trong bài viết đăng lên diễn đàn trước mình đã giới thiệu 3 loại quan điểm về nguồn gốc hôn tục này của giới học thuật trước đây: (1) Một là cho rằng đó là “phong tục được phát sinh trong thời kỳ quá độ từ xã hội thị tộc mẫu hệ sang xã hội phụ hệ”, hai là từ sự phân công giữa hai giới không đồng mà thành, ba là do “tảo hôn” mà thành tục. Ba loại quan điểm này được Giáo sư Tưởng Bính Chiêu (蒋炳钊) ở trường Đại học Hạ Môn giới thiệu trong bài viết của ông được đăng trên tạp chí Nghiên cứu dân tộc Quảng Tây. Ba cách nhìn này là những kết quả mang tính thực chứng cao, có được từ những chuyến đi khảo sát thực địa của các nhà khoa học. Năm 1951 giáo sư Lâm Huệ Tường (林惠祥) trường đại học Hạ Môn đã đến thôn Thụy Đông (瑞东)– huyện Huệ An (惠安) tham gia cải cách ruộng đất, trong quá trình điều tra đã phát hiện ra tập tục hôn nhân này, hình thành nên quan điểm thứ nhất. Giáo sư Kiều Kiến (乔健) – chủ nhiệm khoa Nhân loại học trường Đại học Trung văn Hồng Kông, khoảng từ năm 1987 đến 1989 đã 4 lần đến trấn Sùng Vũ (崇武) – Huệ An, đến từng hộ gia đình khảo sát, hình thành nên quan điểm thứ hai. Quan điểm thứ ba là do giáo sư Chung Niên (钟年) ở học viện Dân tộc Trung Nam sau khi điều tra thực địa ở khu vực Dụng Thủy Hồng Diêu (融水红瑶) – Quảng Tây mà hình thành. Những lập luận này đều được hình thành trong những hoàn cảnh thực tiễn, lập luận đều có cơ sở, thế nhưng vẫn chưa thuyết phục vì chư mang tính khái quát cao, còn hạn chế trong phạm vi một khu vực cục bộ, chưa chứng minh được tập tục hôn nhân “Không về ở nhả chồng” có là một hiện tượng vốn có mang tính phổ biến không? Và nó được sinh ra từ đâu?...
Những vấn đề này mình đều có đề cập và chứng minh rõ trong bài tiểu luận của mình.
Thứ tư: hình thức biểu hiện của tập tục này khá đa dạng, biểu hiện của tập tục ở các dân tộc có nhiều điểm khác nhau, hay với những tên gọi khác, nhưng tụ chung lại thì đó cũng là những dạng thức của cùng một tập tục “Bất lạc phu gia”, với hình thức chủ yếu là: sau khi kết hôn các cô gái đều trở về sống ở nhà mẹ ruột, trong những thời gian quy định thì sẽ trở về nhà chồng để phụ việc nhà hoặc có sự định cư lâu. Thông thường khoảng thời gian cô gái sống ở nhà mẹ ruột ngắn thì cũng khoảng 1, 2 năm, dài thì cũng khoảng 7, 8 năm cho đến trên 20 năm. Trong thời gian cư trú ở nhà mẹ thì người con gái đã kết hôn cũng giống với người con gái trước hôn nhân, vẫn là thành viên gia đình nhà mẹ, cùng cha mẹ anh em tham gia lao động, cũng vẫn được hưởng những quyền lợi của một cô gái. Chỉ có vào những ngày tết hay ngày mùa mới về lại nhà chồng sống một thời gian ngắn. Hai bên vợ chồng đều sống tự do, tôn trọng và không can thiệp lẫn nhau. Chỉ là vào dịp lễ tết, lúc ngày mùa hay khi nhà chồng có chuyện thì nhà chồng phái người mang theo lễ vật đón con dâu về ở nhà chồng một vài ngày phụ làm một số việc gia đình, đồng áng, sau đó lại trở về nhà mẹ ruột. Cuộc sống “không về ở nhà chồng” này liên tục được duy trì đến lúc mang thai hoặc sau khi sinh đứa con thứ nhất, mới về lại nhà chồng. Nhưng cũng có nơi thì do phụ nữ sau khi kết hôn nhiều năm không mang bầu, nhưng vì tuổi đã lớn nên không thể không đến sống ở nhà chồng.
Thứ năm: việc thành lập các tổ chức của các cô gái sau khi kết hôn có nguyên nhân: Ở một số vùng sau khi kết hôn, trong khoảng thời gian người phụ nữ không về nhà chồng, ngày bình thường không thể tùy tiện mà bước vào cửa nhà chồng; cho dù vào được nhà chồng thì cũng không thể gần chồng, hết sức tránh né sinh hoạt vợ chồng. Nếu phải về nhà chồng do có thai thì sẽ bị người cùng trang lứa, hay những người trong họ hàng chế giễu. Người con gái sẽ được tôn trọng hơn nếu sống lâu ở nhà mẹ ruột, xấu hổ nhục nhã khi về nhà chồng quá sớm. Để bảo đảm làm được việc này, người phụ nữ “sống lâu ở nhà mẹ” thường kết thành những nhóm tỉ muội sống chết có nhau, với quy định không gặp gỡ riêng với chồng. Vì thế có những cuộc hôn nhân tuy nhiều năm, phu thuê tương phùng nhiều nhưng vẫn không có tin vui.
Tuy nhiên một loại tập tục nhưng trong những hoàn cảnh xã hội khác nhau thì sẽ tạo ra những ý nghĩa khác nhau, và cũng có thể mang lại những ý nghĩa tiêu cực. Vùng Hán tộc lưu hành tập tục “Không về ở nhà chồng” đa phần chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến rất sâu đậm, với những quy định khắt khe hơn, nên có một số đặc điểm không giống với khu vực dân tộc thiểu số trong việc lưu hành tập tục hôn nhân này, đã tạo ra nhiều bi kịch trong hôn nhân. Trong khoảng thời gian sống ở nhà mẹ ruột cô gái tuyệt đối không được phép đi lại với người khác giới, và cũng không dám công khai đi lại với chồng mình (điển hình là việc đến nhà chồng vào lúc trời tối, và sáng sớm tinh mơ lại về nhà mẹ), thậm chí còn kiêng kị mọi người nói câu “quan hệ của cô ấy với chồng là rất tốt”, điều này nhằm tránh tạo ra dư luận trong xã hội. Do những nguyên nhân này nên ở một số khu vực đã xuất hiện các tổ chức kết nghĩa chị em tự phát của những phụ nữ “Không về nhà chồng”. Vì vậy những cô gái vẫn chưa xuất giá hoặc sau khi đã kết hôn thường bái lạy kết nghĩa chị em và tự thành lập nên những tổ chức có quy định riêng, ví dụ như tổ chức “Thập tỉ mụi” (十姐妹), “Toàn lan hội” (金兰会), “Tự sơ mụi” (自梳妹) ở Quảng Đông, “Kim lan hội” (金兰会) ở Quảng Châu, ... Sự tồn tại của những tổ chức này về mặt tinh thần đối với những người phụ nữ “không về ở nhà chồng” hay “ở lâu nhà mẹ ruột” cũng có sự an ủi, nhưng trong thời gian “không về ở nhà chồng” lại tạo ra những tác dụng nhằm kéo dài thời gian hoặc hạn chế việc về nhà chồng của cô gái. Ngoài ra một tác dụng tích cực là những tổ chức này còn xem xét các vấn đề về chi phí sinh hoạt và chăm lo cho các phụ nữ từ lúc tham gia đến khi về già.
Có những tổ chức các cô gái thường lập thành những nhóm để than khóc, “giống như khóc thương cho người mẹ đã chết”, bởi họ quan niệm rằng “giống như bóng tối qua cửa, những người xuất giá phải bị trói buộc, trạng thái ấy giống như sự khâm liệm xác chết…” [Tưởng Bính Chiêu (1994): Thảo luận liên quan đến khởi nguồn của hôn tục “Sống lâu ở nhà mẹ”, Tạp chí nghiên cứu dân tộc Quảng Tây, tr.112]. Cũng có những tổ chức thậm chí có những cô gái hẹn nhau cùng tự sát tập thể để thể hiện sự phản kháng.
Tuy nhiên nhìn chung việc khóc thương hay tự vẫn của các cô gái ở hôn tục “Không về nhà chồng” chỉ là hình thức, một cách biểu hiện của sự chống đối việc thi hành tập tục, và nó không phải là đặc điểm chung phổ biến của những tổ chức như thế.
Thứ sáu: Mình đồng ý với quan điểm của bạn ttmmsuongkho rằng: "sự trì hoãn này do yếu tố nông nghiệp, bản chất gốc của người trồng lúa nước ở bờ Nam sông Hoàng Hà". Mình cũng bổ sung thêm một cách lý giải nữa là: Trung Hoa với văn hóa nông nghiệp gốc du mục, bản tính động nên phải lấy gia đình làm gốc. Mặt khác đối với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp thì yếu tố con người trong lao động rất được xem trọng. Việc cô gái khi có thai hoặc khi sinh con về sống lâu ở nhà chồng cũng đồng nghĩa với việc gia đình cô gái mất đi một sức lao động. Vì vậy những hình thức như việc tránh quan hệ với chồng sau khi kết hôn cũng mục đích trì hoãn việc về ở nhà chồng của cô gái, duy trì nguồn lao động cho gia đình cô gái.
Bài đăng lên diễn đàn chỉ là phần giới thiệu về đối tượng mà bài tiểu luận hướng đến, không phải là một bài làm hoàn chỉnh, nên chắc chắn chưa thể hiện hết những gì mà bản thân người làm muốn đề cập đến.
Trên diễn đàn mình không thể đăng cả bài tiểu luận của mình, nên mình mới chỉ tóm gọn một vài ý để trả lời cũng như giới thiệu thêm với mọi người về tập tục hôn nhân này. Nếu mọi người muốn biết rõ hơn, hay cần chứng minh cụ thể một vấn đề nào đó thì chúng ta sẽ cùng trao đổi thêm.
Trước đây trong bài viết đăng lên diễn đàn của mình do mình chưa viết rõ ràng, câu văn chưa chuẩn xác, các ý chưa cụ thể, nên đã tạo ra nhiều sự hiểu nhầm ở các bạn. Sau đó với lý do là mình chưa hoàn thành xong việc nghiên cứu đề tài này nên vẫn chưa có câu trả lời cho những thắc mắc của các bạn, mình thật sự xin lỗi.
Khoa học là phải chấp nhận cái sai, và đặc biệt là khoa học về xã hội nhân văn thì khó mà có được cái nhất tuyệt đối, cùng một hiện tượng nhưng mỗi người với những cách tiếp cận khác nhau sẽ cho ra những kết quả khác nhau. Vì vậy những sự đóng góp của các bạn sẽ giúp ích cho mình rất nhiều. Bài viết mới nhất này của mình có thể cũng không tránh khỏi những sai sót về câu chữ, nội dung lẫn quan điểm, nên mình rất mong sẽ nhận được thêm nhiều sự phản hồi từ phía các bạn.
Cám ơn mọi người nhiều vì đã quan tâm đến bài viết của mình, chúc mọi người luôn vui vẻ.
Hạnh phúc khi tôi được ngắm nhìn ...
Lưu Tuấn Anh
刘俊英
りゅうとしひで (劉俊英)