Có phải giáo dục đang mất dần tính nhân đạo và nhân văn?
Tôi mớí nhận được một bức thư điện tử sau đây của ThS. Đào Tiến Thi, cán bộ biên tập NXB Giáo Dục (Hà Nội):
dao tien thi <daotienthi1958@yahoo.com.vn>
tới: ngocthem@gmail.com
ngày: 22-02-2008 18:41
chủ đề: Bài báo
được ký bởi: yahoo.com.vn
Em gửi thầy bài “Phải chăng giáo dục đang mất dần tính nhân đạo và nhân văn?” mới đăng trên “Thể thao - văn hoá” số 50, 51,52 các ngày 19, 20, 21 (Họ cắt mất chữ “nhân đạo”). Bài này em đã gửi một số báo chí cách đây mấy năm mà không đăng nổi. Nếu rảnh, thầy liếc qua. Vì em muốn chia sẻ với thầy về hiện tượng bất bình đẳng mà thầy đã đề cập trong bài viết về GS. Cao Xuân Hạo. Bất bình đẳng trong GD lại càng buồn, phải không ạ.
Kính thư
Đào Tiến Thi
NXB Giáo dục
0912768086; daotienthi1958@yahoo.com.vn
Xét thấy đây là một đề tài mang tính xã hội mà mọi người đều quan tâm, lại có thể nhìn dưới góc độ văn
hoá học, nên tôi xin post nguyên văn lên đây để các bạn cùng trao đổi.
[center]Có phải giáo dục đang mất dần tính nhân đạo và nhân văn?
ThS. Đào Tiến Thi[/center]
1. Trường học có còn là nơi “san bằng các địa vị”?
Có lẽ giáo dục ở bất cứ xã hội nào cũng ít nhiều có tính nhân đạo. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến, những xã hội có sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, giai cấp thống trị gần như độc quyền chiếm hữu mọi quyền lợi vật chất và tinh thần thì thông qua giáo dục, những giá trị chung của nhân loại vẫn có cơ hội nhất định đến với các đẳng cấp thấp. Nhiều người xuất thân bình dân, thậm chí “dưới đáy” nhưng nhờ con đường học hành, đỗ đạt vẫn được trọng dụng, do đó thay đổi hẳn thân phận và xã hội có thêm nguồn lực trí tuệ. Sang thời kỳ tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản, giai cấp đã từng phải huy động tất cả các tầng lớp lao động vào cuộc cách mạng xã hội to lớn, phá tung “đêm trường trung cổ”, cũng đồng thời làm cuộc cách mạng trong giáo dục, góp phần làm nên thế kỷ “ánh sáng”. Khẩu hiệu "Tự do - Bình đẳng - Bác ái" không hẳn chỉ là khẩu hiệu, mà trong những chừng mực nhất định, điều này đã được thực thi, chí ít giáo dục cũng có tác dụng điều chỉnh những bất công, bất cập do chế độ tư hữu và cạnh tranh gây ra. Trong tập Những tấm lòng cao cả của nhà văn Italia Amixi (đã được chuyển thành phim, chiếu trên truyền hình ở ta cách đây vài năm), ta thấy tất cả trẻ em đến trường, từ con ông quý tộc đến con ông bán than đều được đối xử như nhau. Ngay từ nửa cuối thế kỷ XIX, người ta đã dám nói to lên rằng: "Trường học là nơi san bằng các địa vị và làm cho mọi người thành bạn bè với nhau cả". Đó là một bước tiến bộ xã hội, phải qua hàng trăm năm đấu tranh mới có được. Trong vài thập kỷ đầu sau Cách mạng tháng Tám, nền giáo dục của ta cũng đã làm tốt mục tiêu nhân đạo này. Thời ấy, tất cả mọi người đều được đi học, được khuyến khích đi học (nhà nghèo được giảm hoặc miễn học phí) và nhờ học tập, hàng triệu người đã thoát khỏi thân phận “dưới đáy xã hội”, trở thành người làm chủ.
Nhưng từ khoảng hơn một thập kỷ nay, ngành giáo dục đang bối rối trước nền kinh tế thị trường. Lẽ ra trong lĩnh vực giáo dục, chúng ta có điều kiện và có nhiệm vụ phải chống lại mặt trái của kinh tế thị trường thì nhiều khi chính giáo dục, hoặc bị xô đẩy một cách tự phát, hoặc tự chạy theo mặt trái đó. Điển hình là việc hình thành hai hệ thống trường lớp phổ thông: một bên là trường chuyên, lớp chọn [1] (nay lại đang hình thành thêm trường chuẩn quốc gia) và một bên là trường, lớp đại trà. Hệ đại trà cũng tiếp tục chia đẳng cấp (theo thứ tự học lực để xếp vào lớp A, B, C, D,...). Hệ “chính ngạch” đã vậy, hệ “học thêm” cũng có nhiều bậc: học thêm tại trường do ông hiệu trưởng tổ chức; học thêm theo nhóm do chính các thầy cô bộ môn dạy lớp đó tổ chức; học thêm do gia đình tự tìm thầy. Cả học chính khoá lẫn việc học thêm, việc vào được loại trường lớp nào, thầy nào, học nhiều hay ít, trước hết chưa phải do nhu cầu hay sức học của trẻ, mà là ở khả năng tài chính của bố mẹ. Như vậy, quyền lợi được học nhiều hay ít tỷ lệ thuận với túi tiền (mà nhiều khi túi tiền này cũng do bất bình đẳng mà có). Chúng tôi được biết, ở một số nước phát triển, ngay khi kinh tế bất bình đẳng thì chính phủ vẫn tạo điều kiện để trẻ em được bình đẳng về học tập: chính phủ thu học phí theo mức thu nhập của cha mẹ, trong khi trẻ được học như nhau. Điều tệ hại hơn, các hệ thống đẳng cấp trên tạo ra cuộc chạy đua vào trường lớp “xịn”; nếu không chạy chọt “tiêu cực” thì phải cố mà “sôi kinh nấu sử” theo lối học khoa cử sáo rỗng, cốt sao lọt được vào thì thôi. Chưa kể, nó tạo tâm lý xấu cho học sinh và giáo viên, kẻ tự kiêu, đắc chí, người tự ty, tủi phận. Trái hẳn ngày trước, biên chế trường lớp theo khu vực cư trú, học sinh giỏi dốt, sang hèn đều được học chung trường, chung lớp, tạo sự hoà đồng, thúc đẩy, giúp đỡ lẫn nhau.
2. Việc học có còn là nềm vui?
Hơn nửa thế kỷ trước nhà văn Nam Cao mơ ước con người được phát triển tận độ những khả năng trời phú, đó là một mơ ước đẹp mà lẽ ra ngày nay có thể dần dần thực hiện được. Thế nhưng hình như việc học bây giờ, là bằng mọi cách là nhồi nhét kiến thức để đi thi. Nếu không phải là sự thúc ép của nhà trường thì cũng để cha mẹ đỡ lo âu. Đạt điểm trung bình, thậm chí khá, hầu hết bố mẹ vẫn lo lắng và trách mắng trẻ. Cũng phải thôi, vì nếu không thì không sao qua được gần một chục cuộc thi và tuyển mỗi năm: thi kiểm tra chất lượng đầu năm, giữa năm, cuối năm; thi tuyển vào trường chuyên, lớp chọn, lại thi sát hạch để loại khỏi trường chuyên lớp chọn (gần đây, ngay cả trường bình thường cũng có thể bị thi lại để loại bớt); thi thử tốt nghiệp, đại học; thi chọn đội tuyển học sinh giỏi, v.v và v.v… Học thêm chiều, học thêm tối, học thêm chủ nhật, học thêm hè; học thêm lớp của cô giáo bộ môn, học thêm nhóm nhỏ với thầy giỏi, học thêm một mình với thầy “cực giỏi”,… Liệu có ai làm cuộc điều tra để xem thời gian chơi của trẻ bây giờ còn được bao nhiêu? Nhưng ai cũng có thể thấy trẻ bây giờ được chơi rất ít. Làm những việc thiết yếu như nấu cơm, giặt giũ, vệ sinh nhà cửa cũng rất ít. Phần lớn thì giờ dành cho học. Có người tưởng học như thế thì mới đáp ứng thời đại. Hoàn toàn không phải. Thời đại ngày càng đòi hỏi con người sáng tạo chứ không phải lặp lại như cái máy. Và ngay cả việc tiếp thu kiến thức “suông” thôi, thì lối học nhồi nhét, phiến diện (chỉ học cái gì phục vụ cho thi) nói trên nên cũng chẳng “nhồi” được bao nhiêu. Học sinh của ta khi vào đại học còn thiếu rất nhiều kiến thức phổ thông. Để bù lại, có lúc người ta phải sinh ra "đại học đại cương" để dạy kiến thức phổ thông. Nhưng "phổ thông hoá đại học" lại tạo ra một thứ kiến thức chẳng ra đại học, chẳng ra phổ thông.
Chương trình và SGK hiện nay không nặng nhưng để chạy đua vào trường lớp “xịn”, cả nhà trường và phu huynh đều cố “tăng tải”. Ví dụ môn Toán, ngay từ tiểu học, trẻ đã phải làm năm loại bài tập toán: bài tập trong SGK (đã có đủ mức từ dễ đến khó) - bài tập trong sách Bài tập (khó hơn SGK) - bài tập trong sách Nâng cao (khó hơn sách Bài tập) - bài tập trong sách Bồi dưỡng (khó hơn sách Nâng cao), và bài tập cô giáo sưu tầm (ở đâu không rõ, khó hơn toán Bồi dưỡng). Có thầy cô chỉ dạy sách nâng cao, vì sách giáo khoa “dễ quá”, không đi thi được! Có nhiều học sinh chỉ làm được “toán khó” (vì đã được tập rượt quen một số mẹo luật) mà không làm được “toán dễ” (vì không có kiến thức cơ bản)! Trong môn văn và các môn xã hội, việc chuyên về rèn mẹo luật đi thi còn dẫn đến hậu quả tồi tệ hơn, vì chúng không còn biết viết theo sự nghĩ của mình nữa. Có những học sinh sau khi làm xong bài văn dài gần cả chục trang nhưng hỏi đã viết những nội dung gì trong ấy thì ngơ ngác không thể biết mình đã viết gì! Chính người viết bài này khi dạy sử thi Ôđixê (lớp 10) đã thử cho học sinh chỉ nước Hy Lạp ở đâu thì hầu hết không biết, hoặc chỉ được nhưng không miêu tả được vị trí của nó (nhưng cho phân tích thì viết tràng giang đại hải, đầy những lời “có cánh”). Cũng bài này, có người cho biết ở Mỹ, học sinh phải vào thư viện đọc toàn bộ sử thi, sau đó giáo viên yêu cầu các em vẽ lại cuộc hành trình của Uylitxơ, đối chiếu những địa danh thời ấy với bây giờ, rồi thử làm cuộc hành trình thời nay, v.v.. Nếu đúng thế thì lối học của ta hiện nay cách quá xa so với thế giới, và quá gần so với lối học “chi, hồ, giả, dã” – lối học sáo rỗng thời phong kiến mà các chí sỹ cách mạng tiền bối cách đây một trăm năm đã dõng dạc kết tội là “làm cho người ngu, nước yếu”.
3. Những giáo viên giỏi có còn giỏi?
Cách đây chưa lâu, những ông thầy giỏi thường là những ông thầy nghèo, nhất là thái độ bất chấp cái nghèo, cái đói. Họ đọc sách, họ làm đồ dùng, họ suy tưởng, họ tranh luận,… không biết chán. Bước vào thời kỳ "kinh tế", các ông thầy giỏi bắt đầu làm ăn được bằng các cua dạy thêm, thoát khỏi cảnh nghèo đói truyền kiếp, có người còn giàu. Nhưng tri thức thì nghèo dần. Còn thì giờ nào mà đọc sách hay vào phòng thí nghiệm khi ngày dạy 3, 4 cua? Dạy rất nhiều mà học rất ít, đó là hình ảnh của ông “thầy giỏi” hôm nay. (Không ai điên rồ muốn quay về thời nghèo để họ lại “giỏi” mà chỉ ao ước làm sao có cơ chế phù hợp để người thầy giỏi có mức sống khá, không phải “chạy sô” tự cứu mình). Lại còn điều này nữa: nhiều khi thầy cũng không có nhu cầu biết cao siêu để làm gì khi học sinh – khách hàng nuôi sống họ chỉ cần những bài bản sẵn có để đi thi. Người ta không đánh giá thầy giỏi hay dốt (kiến thức) mà ở chỗ có nhiều “võ” luyện thi hay không, có nhiều học trò đỗ hay không. Tôi có anh bạn là giáo viên giỏi, lại là nhà thơ, chữ nghĩa phong phú lắm nhưng luôn bị hiệu trưởng đe rằng: “Ông đừng có văn chương, thơ phú gì nhé. Nó trượt thì toi đấy”. Đúng vậy. Vì cùng trường, có ông dốt nhưng đông “khách” vì dạy lối đọc chép, “hiệu quả” hơn.
Trong nhiều ý kiến về giáo dục gần đây, tôi tâm đắc với ý kiến Giáo sư Hồ Ngọc Đại: hãy bình thường hoá đời sống giáo dục. Để bình thường hoá đời sống giáo dục có lẽ không đến nỗi khó quá. Hãy trả nó về bản chất nhân đạo, nhân văn vốn có. Muốn thế trước hết đừng tạo thêm cơ chế bất bình đẳng. Điều 10 Luật Giáo dục (có hiệu lực từ 1.1.2006) ghi rõ: “Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập”. Tại sao nhiều chính sách lại không xuất phát từ luật?
[right]2006 - 2007[/right]
-----------------------
[1] Trường chuyên là loại hình có vẻ chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ, dành riêng cho học sinh “năng khiếu” (năng khiếu gì mà nhiều thế?), nhưng thực sự quy mô trường chuyên ngày càng mở rộng. Các trường chuyên THCS (cấp 2), danh chính là đã xoá bỏ từ năm 1998 mà thực ra vẫn tồn tại dưới một cái tên khác, tuy không có chữ “chuyên”, nhưng nội dung học vẫn rất “chuyên”, thi vào vẫn rất ngặt nghèo. Đặc biệt, số lớp “chọn”, ban đầu chỉ có ở một số trường, nay gần như trường nào cũng có. Chế độ “đẳng cấp” tồn tại ngay trong một trường.
dao tien thi <daotienthi1958@yahoo.com.vn>
tới: ngocthem@gmail.com
ngày: 22-02-2008 18:41
chủ đề: Bài báo
được ký bởi: yahoo.com.vn
Em gửi thầy bài “Phải chăng giáo dục đang mất dần tính nhân đạo và nhân văn?” mới đăng trên “Thể thao - văn hoá” số 50, 51,52 các ngày 19, 20, 21 (Họ cắt mất chữ “nhân đạo”). Bài này em đã gửi một số báo chí cách đây mấy năm mà không đăng nổi. Nếu rảnh, thầy liếc qua. Vì em muốn chia sẻ với thầy về hiện tượng bất bình đẳng mà thầy đã đề cập trong bài viết về GS. Cao Xuân Hạo. Bất bình đẳng trong GD lại càng buồn, phải không ạ.
Kính thư
Đào Tiến Thi
NXB Giáo dục
0912768086; daotienthi1958@yahoo.com.vn
Xét thấy đây là một đề tài mang tính xã hội mà mọi người đều quan tâm, lại có thể nhìn dưới góc độ văn
hoá học, nên tôi xin post nguyên văn lên đây để các bạn cùng trao đổi.
[center]Có phải giáo dục đang mất dần tính nhân đạo và nhân văn?
ThS. Đào Tiến Thi[/center]
1. Trường học có còn là nơi “san bằng các địa vị”?
Có lẽ giáo dục ở bất cứ xã hội nào cũng ít nhiều có tính nhân đạo. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến, những xã hội có sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, giai cấp thống trị gần như độc quyền chiếm hữu mọi quyền lợi vật chất và tinh thần thì thông qua giáo dục, những giá trị chung của nhân loại vẫn có cơ hội nhất định đến với các đẳng cấp thấp. Nhiều người xuất thân bình dân, thậm chí “dưới đáy” nhưng nhờ con đường học hành, đỗ đạt vẫn được trọng dụng, do đó thay đổi hẳn thân phận và xã hội có thêm nguồn lực trí tuệ. Sang thời kỳ tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản, giai cấp đã từng phải huy động tất cả các tầng lớp lao động vào cuộc cách mạng xã hội to lớn, phá tung “đêm trường trung cổ”, cũng đồng thời làm cuộc cách mạng trong giáo dục, góp phần làm nên thế kỷ “ánh sáng”. Khẩu hiệu "Tự do - Bình đẳng - Bác ái" không hẳn chỉ là khẩu hiệu, mà trong những chừng mực nhất định, điều này đã được thực thi, chí ít giáo dục cũng có tác dụng điều chỉnh những bất công, bất cập do chế độ tư hữu và cạnh tranh gây ra. Trong tập Những tấm lòng cao cả của nhà văn Italia Amixi (đã được chuyển thành phim, chiếu trên truyền hình ở ta cách đây vài năm), ta thấy tất cả trẻ em đến trường, từ con ông quý tộc đến con ông bán than đều được đối xử như nhau. Ngay từ nửa cuối thế kỷ XIX, người ta đã dám nói to lên rằng: "Trường học là nơi san bằng các địa vị và làm cho mọi người thành bạn bè với nhau cả". Đó là một bước tiến bộ xã hội, phải qua hàng trăm năm đấu tranh mới có được. Trong vài thập kỷ đầu sau Cách mạng tháng Tám, nền giáo dục của ta cũng đã làm tốt mục tiêu nhân đạo này. Thời ấy, tất cả mọi người đều được đi học, được khuyến khích đi học (nhà nghèo được giảm hoặc miễn học phí) và nhờ học tập, hàng triệu người đã thoát khỏi thân phận “dưới đáy xã hội”, trở thành người làm chủ.
Nhưng từ khoảng hơn một thập kỷ nay, ngành giáo dục đang bối rối trước nền kinh tế thị trường. Lẽ ra trong lĩnh vực giáo dục, chúng ta có điều kiện và có nhiệm vụ phải chống lại mặt trái của kinh tế thị trường thì nhiều khi chính giáo dục, hoặc bị xô đẩy một cách tự phát, hoặc tự chạy theo mặt trái đó. Điển hình là việc hình thành hai hệ thống trường lớp phổ thông: một bên là trường chuyên, lớp chọn [1] (nay lại đang hình thành thêm trường chuẩn quốc gia) và một bên là trường, lớp đại trà. Hệ đại trà cũng tiếp tục chia đẳng cấp (theo thứ tự học lực để xếp vào lớp A, B, C, D,...). Hệ “chính ngạch” đã vậy, hệ “học thêm” cũng có nhiều bậc: học thêm tại trường do ông hiệu trưởng tổ chức; học thêm theo nhóm do chính các thầy cô bộ môn dạy lớp đó tổ chức; học thêm do gia đình tự tìm thầy. Cả học chính khoá lẫn việc học thêm, việc vào được loại trường lớp nào, thầy nào, học nhiều hay ít, trước hết chưa phải do nhu cầu hay sức học của trẻ, mà là ở khả năng tài chính của bố mẹ. Như vậy, quyền lợi được học nhiều hay ít tỷ lệ thuận với túi tiền (mà nhiều khi túi tiền này cũng do bất bình đẳng mà có). Chúng tôi được biết, ở một số nước phát triển, ngay khi kinh tế bất bình đẳng thì chính phủ vẫn tạo điều kiện để trẻ em được bình đẳng về học tập: chính phủ thu học phí theo mức thu nhập của cha mẹ, trong khi trẻ được học như nhau. Điều tệ hại hơn, các hệ thống đẳng cấp trên tạo ra cuộc chạy đua vào trường lớp “xịn”; nếu không chạy chọt “tiêu cực” thì phải cố mà “sôi kinh nấu sử” theo lối học khoa cử sáo rỗng, cốt sao lọt được vào thì thôi. Chưa kể, nó tạo tâm lý xấu cho học sinh và giáo viên, kẻ tự kiêu, đắc chí, người tự ty, tủi phận. Trái hẳn ngày trước, biên chế trường lớp theo khu vực cư trú, học sinh giỏi dốt, sang hèn đều được học chung trường, chung lớp, tạo sự hoà đồng, thúc đẩy, giúp đỡ lẫn nhau.
2. Việc học có còn là nềm vui?
Hơn nửa thế kỷ trước nhà văn Nam Cao mơ ước con người được phát triển tận độ những khả năng trời phú, đó là một mơ ước đẹp mà lẽ ra ngày nay có thể dần dần thực hiện được. Thế nhưng hình như việc học bây giờ, là bằng mọi cách là nhồi nhét kiến thức để đi thi. Nếu không phải là sự thúc ép của nhà trường thì cũng để cha mẹ đỡ lo âu. Đạt điểm trung bình, thậm chí khá, hầu hết bố mẹ vẫn lo lắng và trách mắng trẻ. Cũng phải thôi, vì nếu không thì không sao qua được gần một chục cuộc thi và tuyển mỗi năm: thi kiểm tra chất lượng đầu năm, giữa năm, cuối năm; thi tuyển vào trường chuyên, lớp chọn, lại thi sát hạch để loại khỏi trường chuyên lớp chọn (gần đây, ngay cả trường bình thường cũng có thể bị thi lại để loại bớt); thi thử tốt nghiệp, đại học; thi chọn đội tuyển học sinh giỏi, v.v và v.v… Học thêm chiều, học thêm tối, học thêm chủ nhật, học thêm hè; học thêm lớp của cô giáo bộ môn, học thêm nhóm nhỏ với thầy giỏi, học thêm một mình với thầy “cực giỏi”,… Liệu có ai làm cuộc điều tra để xem thời gian chơi của trẻ bây giờ còn được bao nhiêu? Nhưng ai cũng có thể thấy trẻ bây giờ được chơi rất ít. Làm những việc thiết yếu như nấu cơm, giặt giũ, vệ sinh nhà cửa cũng rất ít. Phần lớn thì giờ dành cho học. Có người tưởng học như thế thì mới đáp ứng thời đại. Hoàn toàn không phải. Thời đại ngày càng đòi hỏi con người sáng tạo chứ không phải lặp lại như cái máy. Và ngay cả việc tiếp thu kiến thức “suông” thôi, thì lối học nhồi nhét, phiến diện (chỉ học cái gì phục vụ cho thi) nói trên nên cũng chẳng “nhồi” được bao nhiêu. Học sinh của ta khi vào đại học còn thiếu rất nhiều kiến thức phổ thông. Để bù lại, có lúc người ta phải sinh ra "đại học đại cương" để dạy kiến thức phổ thông. Nhưng "phổ thông hoá đại học" lại tạo ra một thứ kiến thức chẳng ra đại học, chẳng ra phổ thông.
Chương trình và SGK hiện nay không nặng nhưng để chạy đua vào trường lớp “xịn”, cả nhà trường và phu huynh đều cố “tăng tải”. Ví dụ môn Toán, ngay từ tiểu học, trẻ đã phải làm năm loại bài tập toán: bài tập trong SGK (đã có đủ mức từ dễ đến khó) - bài tập trong sách Bài tập (khó hơn SGK) - bài tập trong sách Nâng cao (khó hơn sách Bài tập) - bài tập trong sách Bồi dưỡng (khó hơn sách Nâng cao), và bài tập cô giáo sưu tầm (ở đâu không rõ, khó hơn toán Bồi dưỡng). Có thầy cô chỉ dạy sách nâng cao, vì sách giáo khoa “dễ quá”, không đi thi được! Có nhiều học sinh chỉ làm được “toán khó” (vì đã được tập rượt quen một số mẹo luật) mà không làm được “toán dễ” (vì không có kiến thức cơ bản)! Trong môn văn và các môn xã hội, việc chuyên về rèn mẹo luật đi thi còn dẫn đến hậu quả tồi tệ hơn, vì chúng không còn biết viết theo sự nghĩ của mình nữa. Có những học sinh sau khi làm xong bài văn dài gần cả chục trang nhưng hỏi đã viết những nội dung gì trong ấy thì ngơ ngác không thể biết mình đã viết gì! Chính người viết bài này khi dạy sử thi Ôđixê (lớp 10) đã thử cho học sinh chỉ nước Hy Lạp ở đâu thì hầu hết không biết, hoặc chỉ được nhưng không miêu tả được vị trí của nó (nhưng cho phân tích thì viết tràng giang đại hải, đầy những lời “có cánh”). Cũng bài này, có người cho biết ở Mỹ, học sinh phải vào thư viện đọc toàn bộ sử thi, sau đó giáo viên yêu cầu các em vẽ lại cuộc hành trình của Uylitxơ, đối chiếu những địa danh thời ấy với bây giờ, rồi thử làm cuộc hành trình thời nay, v.v.. Nếu đúng thế thì lối học của ta hiện nay cách quá xa so với thế giới, và quá gần so với lối học “chi, hồ, giả, dã” – lối học sáo rỗng thời phong kiến mà các chí sỹ cách mạng tiền bối cách đây một trăm năm đã dõng dạc kết tội là “làm cho người ngu, nước yếu”.
3. Những giáo viên giỏi có còn giỏi?
Cách đây chưa lâu, những ông thầy giỏi thường là những ông thầy nghèo, nhất là thái độ bất chấp cái nghèo, cái đói. Họ đọc sách, họ làm đồ dùng, họ suy tưởng, họ tranh luận,… không biết chán. Bước vào thời kỳ "kinh tế", các ông thầy giỏi bắt đầu làm ăn được bằng các cua dạy thêm, thoát khỏi cảnh nghèo đói truyền kiếp, có người còn giàu. Nhưng tri thức thì nghèo dần. Còn thì giờ nào mà đọc sách hay vào phòng thí nghiệm khi ngày dạy 3, 4 cua? Dạy rất nhiều mà học rất ít, đó là hình ảnh của ông “thầy giỏi” hôm nay. (Không ai điên rồ muốn quay về thời nghèo để họ lại “giỏi” mà chỉ ao ước làm sao có cơ chế phù hợp để người thầy giỏi có mức sống khá, không phải “chạy sô” tự cứu mình). Lại còn điều này nữa: nhiều khi thầy cũng không có nhu cầu biết cao siêu để làm gì khi học sinh – khách hàng nuôi sống họ chỉ cần những bài bản sẵn có để đi thi. Người ta không đánh giá thầy giỏi hay dốt (kiến thức) mà ở chỗ có nhiều “võ” luyện thi hay không, có nhiều học trò đỗ hay không. Tôi có anh bạn là giáo viên giỏi, lại là nhà thơ, chữ nghĩa phong phú lắm nhưng luôn bị hiệu trưởng đe rằng: “Ông đừng có văn chương, thơ phú gì nhé. Nó trượt thì toi đấy”. Đúng vậy. Vì cùng trường, có ông dốt nhưng đông “khách” vì dạy lối đọc chép, “hiệu quả” hơn.
Trong nhiều ý kiến về giáo dục gần đây, tôi tâm đắc với ý kiến Giáo sư Hồ Ngọc Đại: hãy bình thường hoá đời sống giáo dục. Để bình thường hoá đời sống giáo dục có lẽ không đến nỗi khó quá. Hãy trả nó về bản chất nhân đạo, nhân văn vốn có. Muốn thế trước hết đừng tạo thêm cơ chế bất bình đẳng. Điều 10 Luật Giáo dục (có hiệu lực từ 1.1.2006) ghi rõ: “Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập”. Tại sao nhiều chính sách lại không xuất phát từ luật?
[right]2006 - 2007[/right]
-----------------------
[1] Trường chuyên là loại hình có vẻ chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ, dành riêng cho học sinh “năng khiếu” (năng khiếu gì mà nhiều thế?), nhưng thực sự quy mô trường chuyên ngày càng mở rộng. Các trường chuyên THCS (cấp 2), danh chính là đã xoá bỏ từ năm 1998 mà thực ra vẫn tồn tại dưới một cái tên khác, tuy không có chữ “chuyên”, nhưng nội dung học vẫn rất “chuyên”, thi vào vẫn rất ngặt nghèo. Đặc biệt, số lớp “chọn”, ban đầu chỉ có ở một số trường, nay gần như trường nào cũng có. Chế độ “đẳng cấp” tồn tại ngay trong một trường.